CHƯƠNG 1 LÍ LUẬN TÂM LÍ HỌC VỀ THÍCH ỨNG CỦA GIÁO VIÊN TIỂU HỌC VỚI ĐÁNH GIÁ HỌC SINH THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Cho đến nay, các nghiên cứu về thích ứng khá đang dạng, phong phú… được khái quát thành nhiều hướng nghiên cứu khác nhau. Có nhiều tác giả đề cập đến các hướng nghiên cứu như: nghiên cứu chung về thích ứng; thích ứng với môi trường sống mới; thích ứng với hoạt động học tập của học sinh, sinh viên; thích ứng trong quá trình đào tạo nghề; thích ứng hoạt động nghề… Trong phần tổng quan của đề tài này, chúng tôi trình bày hai hướng nghiên cứu chính liên quan đến đề tài: các công trình nghiên cứu thích ứng với hoạt động nghề nghiệp; các công trình nghiên cứ về đánh giá theo tiếp cận năng lực; các công trình nghiên cứu thích ứng với hoạt động đánh giá theo tiếp cận năng lực.
Nghiên cứu thích ứng với hoạt động nghề nghiệp Thích ứng với hoạt động nghề nghiệp là một loại thích ứng tất yếu trong cuộc đời của một con người. Trong quá trình làm việc, con người luôn phải thay đổi bản thân trước những khó khăn, thách thức của công việc, giúp công việc hiệu quả hơn. Quá trình ấy đòi hỏi cá nhân phải lĩnh hội được những đòi hỏi của nghề nghiệp, thâm nhập vào hoạt động nghề nghiệp để hình thành những phẩm chất và kĩ năng nghề. Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về thích ứng nghề nghiệp, có thể kể đến một số công trình sau: Năm 1969, E.
Ermolaeva đã nghiên cứu “Đặc điểm sự thích ứng xã hội và nghề nghiệp của sinh viên tốt nghiệp trường sư phạm”. Tác giả đã đưa ra khái niệm “thích ứng nghề nghiệp là một quá trình thích nghi của người mới lao động với đặc điểm và điều kiện lao động trong tập thể nhất định”. Tác giả cũng đã đưa ra những chỉ số đặc trưng của thích ứng nghề. Theo tác giả, 4 chỉ số khách quan cho sự thích ứng nghề của sinh viên sư phạm bao gồm:Chất lượng lao động và chất lượng học tập; Trình độ nghề nghiệp; Mức độ kỉ luật của người giáo viên; Địa vị của người LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 giáo viên trẻ trong tập thể sư phạm.
Đồng thời, tác giả cũng nêu ra 3 chỉ số chủ quan ảnh hưởng đến sự thích ứng nghề, đó là: Mức độ hài lòng về công tác sư phạm; Mức độ hài lòng về điều kiện lao động; Mức độ hài lòng về các mối quan hệ qua lại trong tập thể sư phạm [16]. Mudric cũng nghiên cứu “Sự thích ứng nghề nghiệp của người thầy giáo”. Các tác giả đã nêu lên quan niệm chung về sự thích ứng tâm lí đối với nghề giáo viên và phân tích các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến sự thích ứng nghề nghiệp [80].Andreeva với nghiên cứu về “Thanh niên và giáo dục”, khi đề cập đến vấn đề thích ứng của sinh viên trong điều kiện trường đại học. Tác giả đã nhấn mạnh khái niệm thích ứng: là một quá trình tạo ra một chế độ hoạt động tối ưu và có mục đích của nhân cách.
Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra sự khác nhau cơ bản giữa thích ứng và thích nghi. Tác giả cho rằng, thích ứng là một quá trình tạo ra một chế độ hoạt động tối ưu và có mục đích của nhân cách. Từ đây, vấn đề thích ứng được gắn liền với hoạt động có đối tượng của chủ thể; hai quá trình này diễn ra đồng thời, trong đó sự thích ứng là tiền đề cho hoạt động có hiệu quả của nhân cách với các vai trò xã hội khác nhau. Sau đó, năm 1973, bà đã nghiên cứu sâu sắc hơn khái niệm thích ứng trong tác phẩm “Con người và xã hội”.
Tác giả có một sự so sánh giữa thích ứng và xã hội hóa, từ đó đi đến kết luận: “Khái niệm thích ứng và xã hội hóa khác nhau thật sự về nội dung. Thích ứng phản ánh quá trình thích nghi của con người với những điều kiện mới của hoạt động có đối tượng mà thiếu nó hoạt động thiếu hiệu quả” [1]. Điều này, cũng được O.Kariagieva bàn kĩ hơn, các tác giả cho rằng: trong “xã hội hóa”, nhân cách trước hết là đối tượng của các tác động xã hội, còn quá trình thích ứng nhân cách là chủ thể của quá trình đó. Quá trình xã hội hóa diễn ra liên tục trong suốt cuộc đời con người và không tùy thuộc vào ý thức chủ quan của cá nhân, nó tác động đến mọi mặt trong đời sống tâm lí của cá nhân.
Còn quá trình thích ứng chỉ diễn ra khi con người gặp những hoàn cảnh mới. Tuy nhiên, trong thực tế chúng ta không nên tách rời hai quá trình này mà phải nhận thức đúng đắn về sự đan xen giữa chúng trong hoạt động của con người với môi trường xung quanh để phát triển nhân cách của mình [1]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Golomstooc khi nghiên cứu về “Sự lựa chọn nghề nghiệp và giáo dục nhân cách cho học sinh”, tác giả đã không sử dụng thuật ngữ “thích ứng” mà sử dụng thuật ngữ “thích hợp” để nói lên sự thích nghi đặc biệt của con người với nghề nghiệp. Trong đó, tác giả nhấn mạnh đến mặt tình cảm của quá trình thích ứng nghề nghiệp và coi đó như là một thuộc tính của nhân cách.Golomstooc còn phê phán các quan niệm truyền thống chỉ xem sự thích ứng như là một quá trình lĩnh hội, thâm nhập vào các điều kiện mới.
Đồng thời, ông cũng nêu lên lý thuyết về sự thích ứng nghề nghiệp phù hợp với những tài liệu thực nghiệm của tâm lí học hiện đại. Tuy nhiên, ông cũng chỉ mới đề cập tới vấn đề thích hợp nghề nghiệp nói chung chứ chưa đi sâu vào một nghề cụ thể [15]. Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa trí tuệ và thích ứng nghề nghiệp, thích ứng tâm lí xã hội, các tác giả A.Kalinhitreva phát hiện ra điều thú vị là chỉ số trí tuệ càng cao thì sự thích ứng nghề nghiệp ngày càng thuận lợi, nhưng đối với sự thích ứng xã hội thì không hoàn toàn như vậy [Dẫn theo 32]. Mudric đã nghiên cứu “Sự thích ứng nghề nghiệp của người thầy giáo”, các tác giả đưa ra quan niệm “Sự thích ứng nghề nghiệp của giáo viên là quá trình thích nghi làm quen với những điều kiện thực tế của hoạt động sư phạm ở nhà giáo dục trẻ, ở người sinh viên tốt nghiệp trường sư phạm khi bước vào công tác ở trường phổ thông”.
Theo các tác giả, thích ứng là quá trình thích nghi từ đầu công việc, sự làm quen với những điều kiện lao động và đặc điểm của quá trình lao động. Sự thích ứng đó chịu ảnh hưởng của cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan [Dẫn theo 66].Krisêva nghiên cứu vấn đề thích ứng với sản xuất của học sinh tốt nghiệp các trường dạy nghề và trường phổ thông trung học. Trong cuốn “Những vấn đề tâm lí học”, tác giả cho rằng: thích ứng là quá trình làm quen với sản xuất, là quá trình gia nhập dần dần vào sản xuất. Thích ứng nghề nghiệp có một số đặc trưng cơ bản: Sự nhanh chóng nắm vững chuyên ngành sản xuất; Các chuẩn mực kĩ thuật, sự phát triển tay nghề; Sự hài lòng với công việc; Vị thế xã hội của cá nhân trong tập thể; Vị thế xã hội của tập thể đó [Dẫn theo 32].
Pine nghiên cứu sự thích ứng của giáo viên với những phương pháp giảng dạy thông thường. Theo nghiên cứu này, để thích ứng với hoạt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 động nghề nghiệp, người giáo viên trước hết phải thích ứng với những phương pháp dạy học rất thông thường, từ đó họ mới tự tin đổi mới phương pháp [130]. Xađônôp khi nghiên cứu về vấn đề hướng nghiệp thì cho rằng: quá trình thích ứng nghề diễn ra ngay từ khi học sinh học trong các trường phổ thông; thích ứng nghề là giai đoạn cuối của việc hướng nghiệp. Quá trình này bao gồm việc nắm bắt tri tức, kĩ năng, kĩ xảo lao động cần thiết và kĩ năng định hướng nhanh trong các tình huống sản xuất [Dẫn theo 32].Vôlanen quan tâm đến vấn đề thích ứng nghề nghiệp và tâm thế xã hội đối với việc làm của thanh niên.
Kết quả nghiên cứu của ông cho thấy giữa việc học nghề và lao động nghề của thanh niên tồn tại một thời kì chuyển tiếp có thể kéo dài từ 5 – 7 năm, được đặc trưng bởi hàng loạt cá sự kiện như thất nghiệp, công việc tạm thời, thậm chí cả sự thay đổi nghề. Tác giả xem đây là những giai đoạn thích ứng nghề của thanh niên và tâm thế của họ đối với việc làm phụ thuộc vào giai đoạn này có diễn ra sự thích ứng nghề hay không; Tác giả Holland khi nghiên cứu sự phù hợp các kiểu nhân cách với những môi trường nghề nghiệp tương ứng đã khẳng định rằng: sự phụ thuộc vào tính cách với môi trường nghề tương ứng sẽ hạn chế rất nhiều những khó khăn mà con người gặp phải trong công việc. Nói khác đi sự phù hợp này sẽ đẩy nhanh quá trình thích ứng nghề. Đây chính là cơ sở cho công tác hướng nghiệp [135].Hesketh trong bài viết “Thích ứng tâm lí nghề để đương đầu với mọi thay đổi” (Adapting Vocational Psychology to Cope with Change), tác giả đã đề cập đến việc đào tạo công nghệ mới cho người lao động, phải tạo điều kiện cho họ nhanh chóng thích ứng công nghệ đó và hình thành những kĩ năng cần thiết.
Tác giả nhấn mạnh người lao động cần thích ứng với tâm lí nghề để họ sẵn sàng đương đầu với mọi thay đổi, không chỉ cung cấp cho họ tri thức nghề mà quan trọng là hình thành ở họ kĩ năng nghề [124, tr. Shcheglova trong nghiên cứu “Các đặc trưng thích ứng nghề của giáo viên phổ thông đối với các giá trị của việc sử dụng máy tính” (Characteristics of Schoolteacher’s Adaptation to the Values of computerization”, tác giả cho rằng thích ứng của giáo viên với những giá trị xã hội thông tin là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 phương pháp độc đáo đòi hỏi tính tích cực trong giảng dạy [134, tr. Công trình nghiên cứu của Shcheglova đã góp phần khẳng định sự thích ứng với những biến đổi xã hội, đặc biệt là thích ứng với biến đổi của công nghệ thông tin là một đòi hỏi tất yếu của con người nói chung và của giáo viên nói riêng trong thế kỉ 21 [134, tr.