Thích Ứng Của Giáo Viên Tiểu Học Tỉnh Sơn La Với Đánh Giá Học Sinh Theo Tiếp Cận Năng Lực

Luận án phân tích sự thích ứng của giáo viên tiểu học tỉnh Sơn La với đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.

Chuyên ngành

Tâm Lý Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2019

243
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

1.4. Giả thuyết khoa học

1.5. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

1.7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

1.8. Đóng góp của luận án

1.9. Cấu trúc của luận án

2. LÍ LUẬN TÂM LÍ HỌC VỀ THÍCH ỨNG CỦA GIÁO VIÊN TIỂU HỌC VỚI ĐÁNH GIÁ HỌC SINH THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC

2.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

2.2. Các nghiên cứu ở nước ngoài

2.3. Các nghiên cứu ở Việt Nam

2.4. Lí luận về thích ứng

2.5. Thích ứng. Đặc trưng cơ bản của thích ứng

2.6. Các mặt biểu hiện của thích ứng. Các loại thích ứng

2.7. Đánh giá theo tiếp cận năng lực

2.8. Đánh giá học sinh tiểu học theo tiếp cận năng lực

2.9. Yêu cầu đối với giáo viên tiểu học trong đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực

2.10. Khó khăn của giáo viên tiểu học khi đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực

2.11. Thích ứng của giáo viên tiểu học với đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực

2.12. Đặc điểm lao động sư phạm của giáo viên tiểu học

2.13. Khái niệm thích ứng của giáo viên tiểu học với đánh giá theo tiếp cận năng lực

2.14. Các biểu hiện về thích ứng của giáo viên tiểu học với việc đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực

2.15. Tiêu chí đánh giá mức độ thích ứng của giáo viên tiểu học với đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực

2.16. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng của giáo viên tiểu học với việc đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực

2.16.1. Các yếu tố chủ quan

2.16.2. Các yếu tố khách quan

2.17. Kết luận chương 1

3. TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Giới thiệu về địa bàn và khách thể nghiên cứu

3.2. Địa bàn nghiên cứu

3.3. Khách thể nghiên cứu

3.4. Tổ chức nghiên cứu

3.5. Nghiên cứu lý luận về thích ứng của giáo viên tiểu học với đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực ở tỉnh Sơn La

3.6. Nghiên cứu thực trạng mức độ thích ứng của giáo viên tiểu học với đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực ở tỉnh Sơn La

3.7. Các giai đoạn nghiên cứu

3.8. Phương pháp nghiên cứu

3.8.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu

3.8.2. Phương pháp quan sát

3.8.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

3.8.4. Phương pháp phỏng vấn sâu

3.8.5. Phương pháp hồi cứu

3.8.6. Phương pháp nghiên cứu trường hợp

3.8.7. Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động

3.8.8. Phương pháp thực nghiệm

3.8.9. Phương pháp thống kê toán học

3.9. Tiêu chí và thang đánh giá

3.9.1. Tiêu chí đánh giá

3.9.2. Thang đánh giá

3.10. Kết luận chương 2

4. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ THÍCH ỨNG CỦA GIÁO VIÊN TIỂU HỌC TỈNH SƠN LA VỚI ĐÁNH GIÁ HỌC SINH THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC

4.1. Thực trạng khó khăn của giáo viên khi đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực

4.2. Đánh giá chung về khó khăn của giáo viên tiểu học khi đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực

4.3. Khó khăn của giáo viên tiểu học khi đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực

4.4. Thái độ của giáo viên tiểu học trước những khó khăn khi đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực

4.5. Thực trạng mức độ thích ứng của giáo viên tiểu học với đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực qua các biểu hiện

4.6. Kết quả hồi cứu về sự thích ứng của giáo viên tiểu học với đánh giá học sinh tiểu học theo tiếp cận năng lực

4.7. Kết quả nghiên cứu trường hợp về thích ứng với đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực của giáo viên tiểu học tỉnh Sơn La

4.8. Các yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng của giáo viên tiểu học với đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực

4.8.1. Ảnh hưởng của yếu tố chủ quan

4.8.2. Ảnh hưởng của yếu tố khách quan

4.9. Các biện pháp tâm lí – giáo dục nâng cao khả năng thích ứng với đánh giá theo tiếp cận năng lực cho giáo viên tiểu học tỉnh Sơn La

4.9.1. Nâng cao nhận thức cho giáo viên tiểu học về đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực

4.9.2. Tổ chức rèn luyện cho giáo viên tiểu học kĩ năng đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực

4.9.3. Bồi dưỡng thường xuyên năng lực dạy học và năng lực giáo dục cho giáo viên tiểu học ở vùng sâu vùng xa

4.9.4. Không gây sức ép về tâm lý đối với giáo viên trong quá trình đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực

4.10. Thực nghiệm tác động

4.10.1. Căn cứ của thực nghiệm tác động

4.10.2. Kết quả thực nghiệm tác động

4.10.3. Kết luận thực nghiệm tác động sư phạm

4.11. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Thích Ứng Của Giáo Viên Tiểu Học Tỉnh Sơn La

Thích ứng của giáo viên tiểu học tỉnh Sơn La với đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. Đặc biệt, việc chuyển từ phương pháp đánh giá truyền thống sang phương pháp đánh giá theo năng lực đòi hỏi giáo viên phải có sự thay đổi trong nhận thức và kỹ năng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục mà còn đến sự phát triển toàn diện của học sinh.

1.1. Định Nghĩa Thích Ứng Trong Giáo Dục

Thích ứng trong giáo dục được hiểu là khả năng của giáo viên trong việc điều chỉnh phương pháp giảng dạy và đánh giá để phù hợp với yêu cầu mới. Điều này bao gồm việc áp dụng các phương pháp đánh giá hiện đại nhằm phát triển năng lực học sinh.

1.2. Tình Hình Giáo Dục Tại Tỉnh Sơn La

Tỉnh Sơn La, với nhiều khó khăn trong giáo dục, đang đối mặt với thách thức lớn trong việc thực hiện đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực. Sự thiếu hụt về cơ sở vật chất và đào tạo giáo viên là những yếu tố cản trở sự thích ứng này.

II. Vấn Đề Thách Thức Trong Đánh Giá Học Sinh

Việc đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực gặp nhiều thách thức, đặc biệt là đối với giáo viên tiểu học. Những khó khăn này không chỉ đến từ phương pháp mà còn từ tâm lý và thói quen của giáo viên. Sự chuyển đổi này cần thời gian và sự hỗ trợ từ các cấp quản lý.

2.1. Khó Khăn Trong Việc Thay Đổi Phương Pháp Đánh Giá

Nhiều giáo viên vẫn quen với phương pháp đánh giá truyền thống, dẫn đến sự khó khăn trong việc áp dụng các phương pháp mới. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng đánh giá và sự phát triển năng lực của học sinh.

2.2. Tâm Lý Giáo Viên Đối Với Đánh Giá Năng Lực

Tâm lý lo ngại về việc không đủ kỹ năng để thực hiện đánh giá theo năng lực là một trong những rào cản lớn. Giáo viên cần được hỗ trợ và đào tạo để vượt qua những lo lắng này.

III. Phương Pháp Giải Quyết Khó Khăn Trong Đánh Giá

Để giúp giáo viên tiểu học tỉnh Sơn La thích ứng với đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực, cần có những phương pháp cụ thể. Việc tổ chức các khóa đào tạo và hội thảo sẽ giúp giáo viên nâng cao nhận thức và kỹ năng cần thiết.

3.1. Tổ Chức Đào Tạo Cho Giáo Viên

Các khóa đào tạo chuyên sâu về đánh giá theo năng lực sẽ giúp giáo viên nắm vững kiến thức và kỹ năng cần thiết. Điều này sẽ tạo ra sự tự tin cho giáo viên trong quá trình thực hiện đánh giá.

3.2. Hỗ Trợ Từ Cấp Quản Lý

Cần có sự hỗ trợ từ các cấp quản lý giáo dục trong việc cung cấp tài liệu và hướng dẫn cụ thể cho giáo viên. Điều này sẽ giúp giáo viên dễ dàng hơn trong việc áp dụng các phương pháp mới.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Đánh Giá Theo Tiếp Cận Năng Lực

Việc áp dụng đánh giá theo tiếp cận năng lực không chỉ giúp giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy mà còn giúp học sinh phát triển toàn diện hơn. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng phương pháp này mang lại nhiều lợi ích cho cả giáo viên và học sinh.

4.1. Lợi Ích Của Đánh Giá Theo Năng Lực

Đánh giá theo năng lực giúp giáo viên nhận diện được điểm mạnh và điểm yếu của học sinh, từ đó có những điều chỉnh phù hợp trong quá trình giảng dạy.

4.2. Kết Quả Nghiên Cứu Về Đánh Giá

Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng đánh giá theo năng lực đã cải thiện đáng kể kết quả học tập của học sinh. Học sinh có khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tốt hơn.

V. Kết Luận Về Thích Ứng Của Giáo Viên Tiểu Học

Thích ứng của giáo viên tiểu học tỉnh Sơn La với đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực là một quá trình cần thiết và cấp bách. Việc nâng cao nhận thức và kỹ năng cho giáo viên sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tại địa phương.

5.1. Tương Lai Của Đánh Giá Theo Năng Lực

Trong tương lai, việc đánh giá theo năng lực sẽ trở thành một phần không thể thiếu trong giáo dục. Giáo viên cần chuẩn bị tốt để đáp ứng yêu cầu này.

5.2. Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Thích Ứng

Cần có các giải pháp cụ thể để nâng cao khả năng thích ứng của giáo viên, bao gồm việc tổ chức các khóa đào tạo và cung cấp tài liệu hỗ trợ.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 LÍ LUẬN TÂM LÍ HỌC VỀ THÍCH ỨNG CỦA GIÁO VIÊN TIỂU HỌC VỚI ĐÁNH GIÁ HỌC SINH THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Cho đến nay, các nghiên cứu về thích ứng khá đang dạng, phong phú… được khái quát thành nhiều hướng nghiên cứu khác nhau. Có nhiều tác giả đề cập đến các hướng nghiên cứu như: nghiên cứu chung về thích ứng; thích ứng với môi trường sống mới; thích ứng với hoạt động học tập của học sinh, sinh viên; thích ứng trong quá trình đào tạo nghề; thích ứng hoạt động nghề… Trong phần tổng quan của đề tài này, chúng tôi trình bày hai hướng nghiên cứu chính liên quan đến đề tài: các công trình nghiên cứu thích ứng với hoạt động nghề nghiệp; các công trình nghiên cứ về đánh giá theo tiếp cận năng lực; các công trình nghiên cứu thích ứng với hoạt động đánh giá theo tiếp cận năng lực.

Nghiên cứu thích ứng với hoạt động nghề nghiệp Thích ứng với hoạt động nghề nghiệp là một loại thích ứng tất yếu trong cuộc đời của một con người. Trong quá trình làm việc, con người luôn phải thay đổi bản thân trước những khó khăn, thách thức của công việc, giúp công việc hiệu quả hơn. Quá trình ấy đòi hỏi cá nhân phải lĩnh hội được những đòi hỏi của nghề nghiệp, thâm nhập vào hoạt động nghề nghiệp để hình thành những phẩm chất và kĩ năng nghề. Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về thích ứng nghề nghiệp, có thể kể đến một số công trình sau: Năm 1969, E.

Ermolaeva đã nghiên cứu “Đặc điểm sự thích ứng xã hội và nghề nghiệp của sinh viên tốt nghiệp trường sư phạm”. Tác giả đã đưa ra khái niệm “thích ứng nghề nghiệp là một quá trình thích nghi của người mới lao động với đặc điểm và điều kiện lao động trong tập thể nhất định”. Tác giả cũng đã đưa ra những chỉ số đặc trưng của thích ứng nghề. Theo tác giả, 4 chỉ số khách quan cho sự thích ứng nghề của sinh viên sư phạm bao gồm:Chất lượng lao động và chất lượng học tập; Trình độ nghề nghiệp; Mức độ kỉ luật của người giáo viên; Địa vị của người LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 giáo viên trẻ trong tập thể sư phạm.

Đồng thời, tác giả cũng nêu ra 3 chỉ số chủ quan ảnh hưởng đến sự thích ứng nghề, đó là: Mức độ hài lòng về công tác sư phạm; Mức độ hài lòng về điều kiện lao động; Mức độ hài lòng về các mối quan hệ qua lại trong tập thể sư phạm [16]. Mudric cũng nghiên cứu “Sự thích ứng nghề nghiệp của người thầy giáo”. Các tác giả đã nêu lên quan niệm chung về sự thích ứng tâm lí đối với nghề giáo viên và phân tích các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến sự thích ứng nghề nghiệp [80].Andreeva với nghiên cứu về “Thanh niên và giáo dục”, khi đề cập đến vấn đề thích ứng của sinh viên trong điều kiện trường đại học. Tác giả đã nhấn mạnh khái niệm thích ứng: là một quá trình tạo ra một chế độ hoạt động tối ưu và có mục đích của nhân cách.

Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra sự khác nhau cơ bản giữa thích ứng và thích nghi. Tác giả cho rằng, thích ứng là một quá trình tạo ra một chế độ hoạt động tối ưu và có mục đích của nhân cách. Từ đây, vấn đề thích ứng được gắn liền với hoạt động có đối tượng của chủ thể; hai quá trình này diễn ra đồng thời, trong đó sự thích ứng là tiền đề cho hoạt động có hiệu quả của nhân cách với các vai trò xã hội khác nhau. Sau đó, năm 1973, bà đã nghiên cứu sâu sắc hơn khái niệm thích ứng trong tác phẩm “Con người và xã hội”.

Tác giả có một sự so sánh giữa thích ứng và xã hội hóa, từ đó đi đến kết luận: “Khái niệm thích ứng và xã hội hóa khác nhau thật sự về nội dung. Thích ứng phản ánh quá trình thích nghi của con người với những điều kiện mới của hoạt động có đối tượng mà thiếu nó hoạt động thiếu hiệu quả” [1]. Điều này, cũng được O.Kariagieva bàn kĩ hơn, các tác giả cho rằng: trong “xã hội hóa”, nhân cách trước hết là đối tượng của các tác động xã hội, còn quá trình thích ứng nhân cách là chủ thể của quá trình đó. Quá trình xã hội hóa diễn ra liên tục trong suốt cuộc đời con người và không tùy thuộc vào ý thức chủ quan của cá nhân, nó tác động đến mọi mặt trong đời sống tâm lí của cá nhân.

Còn quá trình thích ứng chỉ diễn ra khi con người gặp những hoàn cảnh mới. Tuy nhiên, trong thực tế chúng ta không nên tách rời hai quá trình này mà phải nhận thức đúng đắn về sự đan xen giữa chúng trong hoạt động của con người với môi trường xung quanh để phát triển nhân cách của mình [1]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Golomstooc khi nghiên cứu về “Sự lựa chọn nghề nghiệp và giáo dục nhân cách cho học sinh”, tác giả đã không sử dụng thuật ngữ “thích ứng” mà sử dụng thuật ngữ “thích hợp” để nói lên sự thích nghi đặc biệt của con người với nghề nghiệp. Trong đó, tác giả nhấn mạnh đến mặt tình cảm của quá trình thích ứng nghề nghiệp và coi đó như là một thuộc tính của nhân cách.Golomstooc còn phê phán các quan niệm truyền thống chỉ xem sự thích ứng như là một quá trình lĩnh hội, thâm nhập vào các điều kiện mới.

Đồng thời, ông cũng nêu lên lý thuyết về sự thích ứng nghề nghiệp phù hợp với những tài liệu thực nghiệm của tâm lí học hiện đại. Tuy nhiên, ông cũng chỉ mới đề cập tới vấn đề thích hợp nghề nghiệp nói chung chứ chưa đi sâu vào một nghề cụ thể [15]. Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa trí tuệ và thích ứng nghề nghiệp, thích ứng tâm lí xã hội, các tác giả A.Kalinhitreva phát hiện ra điều thú vị là chỉ số trí tuệ càng cao thì sự thích ứng nghề nghiệp ngày càng thuận lợi, nhưng đối với sự thích ứng xã hội thì không hoàn toàn như vậy [Dẫn theo 32]. Mudric đã nghiên cứu “Sự thích ứng nghề nghiệp của người thầy giáo”, các tác giả đưa ra quan niệm “Sự thích ứng nghề nghiệp của giáo viên là quá trình thích nghi làm quen với những điều kiện thực tế của hoạt động sư phạm ở nhà giáo dục trẻ, ở người sinh viên tốt nghiệp trường sư phạm khi bước vào công tác ở trường phổ thông”.

Theo các tác giả, thích ứng là quá trình thích nghi từ đầu công việc, sự làm quen với những điều kiện lao động và đặc điểm của quá trình lao động. Sự thích ứng đó chịu ảnh hưởng của cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan [Dẫn theo 66].Krisêva nghiên cứu vấn đề thích ứng với sản xuất của học sinh tốt nghiệp các trường dạy nghề và trường phổ thông trung học. Trong cuốn “Những vấn đề tâm lí học”, tác giả cho rằng: thích ứng là quá trình làm quen với sản xuất, là quá trình gia nhập dần dần vào sản xuất. Thích ứng nghề nghiệp có một số đặc trưng cơ bản: Sự nhanh chóng nắm vững chuyên ngành sản xuất; Các chuẩn mực kĩ thuật, sự phát triển tay nghề; Sự hài lòng với công việc; Vị thế xã hội của cá nhân trong tập thể; Vị thế xã hội của tập thể đó [Dẫn theo 32].

Pine nghiên cứu sự thích ứng của giáo viên với những phương pháp giảng dạy thông thường. Theo nghiên cứu này, để thích ứng với hoạt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 động nghề nghiệp, người giáo viên trước hết phải thích ứng với những phương pháp dạy học rất thông thường, từ đó họ mới tự tin đổi mới phương pháp [130]. Xađônôp khi nghiên cứu về vấn đề hướng nghiệp thì cho rằng: quá trình thích ứng nghề diễn ra ngay từ khi học sinh học trong các trường phổ thông; thích ứng nghề là giai đoạn cuối của việc hướng nghiệp. Quá trình này bao gồm việc nắm bắt tri tức, kĩ năng, kĩ xảo lao động cần thiết và kĩ năng định hướng nhanh trong các tình huống sản xuất [Dẫn theo 32].Vôlanen quan tâm đến vấn đề thích ứng nghề nghiệp và tâm thế xã hội đối với việc làm của thanh niên.

Kết quả nghiên cứu của ông cho thấy giữa việc học nghề và lao động nghề của thanh niên tồn tại một thời kì chuyển tiếp có thể kéo dài từ 5 – 7 năm, được đặc trưng bởi hàng loạt cá sự kiện như thất nghiệp, công việc tạm thời, thậm chí cả sự thay đổi nghề. Tác giả xem đây là những giai đoạn thích ứng nghề của thanh niên và tâm thế của họ đối với việc làm phụ thuộc vào giai đoạn này có diễn ra sự thích ứng nghề hay không; Tác giả Holland khi nghiên cứu sự phù hợp các kiểu nhân cách với những môi trường nghề nghiệp tương ứng đã khẳng định rằng: sự phụ thuộc vào tính cách với môi trường nghề tương ứng sẽ hạn chế rất nhiều những khó khăn mà con người gặp phải trong công việc. Nói khác đi sự phù hợp này sẽ đẩy nhanh quá trình thích ứng nghề. Đây chính là cơ sở cho công tác hướng nghiệp [135].Hesketh trong bài viết “Thích ứng tâm lí nghề để đương đầu với mọi thay đổi” (Adapting Vocational Psychology to Cope with Change), tác giả đã đề cập đến việc đào tạo công nghệ mới cho người lao động, phải tạo điều kiện cho họ nhanh chóng thích ứng công nghệ đó và hình thành những kĩ năng cần thiết.

Tác giả nhấn mạnh người lao động cần thích ứng với tâm lí nghề để họ sẵn sàng đương đầu với mọi thay đổi, không chỉ cung cấp cho họ tri thức nghề mà quan trọng là hình thành ở họ kĩ năng nghề [124, tr. Shcheglova trong nghiên cứu “Các đặc trưng thích ứng nghề của giáo viên phổ thông đối với các giá trị của việc sử dụng máy tính” (Characteristics of Schoolteacher’s Adaptation to the Values of computerization”, tác giả cho rằng thích ứng của giáo viên với những giá trị xã hội thông tin là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 phương pháp độc đáo đòi hỏi tính tích cực trong giảng dạy [134, tr. Công trình nghiên cứu của Shcheglova đã góp phần khẳng định sự thích ứng với những biến đổi xã hội, đặc biệt là thích ứng với biến đổi của công nghệ thông tin là một đòi hỏi tất yếu của con người nói chung và của giáo viên nói riêng trong thế kỉ 21 [134, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ