Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 2006-2016 ghi nhận những bước chuyển mình quan trọng của nền kinh tế Việt Nam sau khi chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2007. Độ mở của nền kinh tế đã tăng vọt từ 144% năm 2007 lên 173% vào năm 2017, đưa thương mại quốc tế trở thành động lực tăng trưởng then chốt. Tuy nhiên, sự mở cửa nhanh chóng cũng đi kèm với nhiều biến động vĩ mô phức tạp, điển hình là giai đoạn thâm hụt cán cân vãng lai nghiêm trọng từ năm 2008 đến 2010. Đỉnh điểm là năm 2008, mức nhập siêu thương mại của Việt Nam chạm mốc kỷ lục 14,1 tỷ USD, tương đương gần 20% GDP, trong khi thâm hụt cán cân vãng lai lên tới 10,79 tỷ USD (chiếm 11,9% GDP).

Vấn đề đặt ra là liệu việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái thông qua phá giá tiền tệ có thực sự là công cụ hữu hiệu để cứu vãn cán cân thương mại hay không. Luận văn tập trung nghiên cứu bản chất tác động của tỷ giá hối đoái thực đa phương đến cán cân thương mại Việt Nam. Mục tiêu cụ thể là xác định mức độ định giá cao hay thấp của đồng Việt Nam so với rổ tiền tệ của 15 đối tác thương mại trọng điểm, phân tích phản ứng động của cán cân thương mại trong ngắn hạn và dài hạn, đồng thời kiểm định sự tồn tại của hiệu ứng đường cong J và điều kiện Marshall-Lerner.

Phạm vi nghiên cứu bao quát chuỗi số liệu theo quý trong 11 năm (từ quý 1 năm 2006 đến quý 4 năm 2016, gồm 44 quan sát) với 15 đối tác thương mại chiếm tỷ trọng lớn nhất gồm: Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Pháp, Anh, Nga, Úc, Singapore, Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ, Thụy Sĩ và Hồng Kông. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp các bằng chứng định lượng chuẩn xác giúp Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan điều hành hoàn thiện cơ chế tỷ giá trung tâm linh hoạt, giảm áp lực thâm hụt thương mại và duy trì năng lực cạnh tranh quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng ba trụ cột lý thuyết kinh tế quốc tế kinh điển: Lý thuyết Ngang giá sức mua, Lý thuyết hiệu ứng đường cong J và Điều kiện Marshall-Lerner.

Lý thuyết Ngang giá sức mua giải thích mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và chênh lệch lạm phát giữa các quốc gia, làm cơ sở để xác định tỷ giá cân bằng và đo lường mức độ lệch hướng của đồng nội tệ. Khung phân tích sử dụng năm khái niệm cốt lõi:

  • Tỷ giá danh nghĩa song phương: Tỷ lệ trao đổi trực tiếp giữa hai đồng tiền chưa điều chỉnh theo lạm phát.
  • Tỷ giá danh nghĩa đa phương: Chỉ số đo lường giá trị của đồng nội tệ so với một rổ tiền tệ có trọng số thương mại.
  • Tỷ giá thực song phương: Tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh theo tương quan chỉ số giá tiêu dùng giữa hai nước.
  • Tỷ giá thực hiệu lực đa phương: Thước đo sức cạnh tranh thương mại tổng hợp, phản ánh sức mua của đồng nội tệ đối với 15 đối tác thương mại chính.
  • Cán cân thương mại: Giá trị xuất khẩu trừ giá trị nhập khẩu hàng hóa.

Mô hình nghiên cứu chuẩn hóa được thiết lập dưới dạng hàm logarit: logarit cán cân thương mại phụ thuộc vào logarit tỷ giá thực hiệu lực đa phương, logarit GDP thực của Việt Nam và logarit GDP thực bình quân của 15 đối tác thương mại. Theo điều kiện Marshall-Lerner, việc phá giá đồng tiền chỉ cải thiện được cán cân thương mại khi tổng độ co giãn theo giá của cầu xuất khẩu và cầu nhập khẩu đạt giá trị tuyệt đối lớn hơn 1.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập đồng bộ từ Tổng cục Thống kê, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới và cơ sở dữ liệu của các tổ chức quốc tế từ quý 1 năm 2006 đến quý 4 năm 2016 (lấy năm 2010 làm năm cơ sở). Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 44 quan sát chuỗi thời gian theo quý. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích, tập trung vào 15 đối tác thương mại hàng đầu chiếm trên 80% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam trong suốt giai đoạn khảo sát.

Quy trình phân tích định lượng được thực hiện trên phần mềm Stata theo ba bước chặt chẽ:

  • Kiểm định nghiệm đơn vị mở rộng Dickey-Fuller để kiểm tra tính dừng của các chuỗi dữ liệu gốc và sai phân bậc một.
  • Kiểm định đồng liên kết Johansen nhằm xác định sự tồn tại của mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các biến số.
  • Ước lượng mô hình Vector tự hồi quy kết hợp phân tích hàm phản ứng xung và phân rã phương sai sai số dự báo.

Lý do lựa chọn mô hình Vector tự hồi quy là vì công cụ này đặc biệt phù hợp để xử lý các chuỗi thời gian kinh tế vĩ mô có tính nội sinh cao, cho phép đánh giá cấu trúc trễ động và phản ứng của cán cân thương mại trước cú sốc tỷ giá mà không bị ràng buộc bởi các giả định đồng liên kết nghiêm ngặt khi các biến chỉ dừng ở sai phân bậc một.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị Dickey-Fuller cho thấy tất cả các chuỗi logarit của cán cân thương mại, tỷ giá thực hiệu lực đa phương, GDP Việt Nam và GDP 15 nước đều không dừng ở bậc gốc nhưng dừng hoàn toàn ở sai phân bậc một với mức ý nghĩa 1%.

Kiểm định đồng liên kết Johansen chỉ ra rằng không tồn tại mối quan hệ đồng liên kết dài hạn giữa tỷ giá hối đoái thực đa phương và cán cân thương mại của Việt Nam trong giai đoạn 2006-2016. Phá giá đồng nội tệ không tạo ra tác động cải thiện bền vững cho cán cân thương mại trong dài hạn.

Phân tích hàm phản ứng xung xác nhận sự tồn tại của hiệu ứng đường cong J trong ngắn hạn. Khi có cú sốc tăng tỷ giá thực (phá giá nội tệ), cán cân thương mại ban đầu suy giảm trong 2 đến 3 quý đầu do hiệu ứng giá cả chiếm ưu thế, sau đó bắt đầu phục hồi nhẹ vào quý thứ 4 và thứ 5 khi hiệu ứng khối lượng phát huy tác dụng, nhưng mức cải thiện này nhanh chóng suy giảm ở các quý tiếp theo.

Điều kiện Marshall-Lerner không được thỏa mãn trong dài hạn tại thị trường Việt Nam. Tổng độ co giãn theo giá của xuất khẩu và nhập khẩu không vượt qua ngưỡng 1, do kim ngạch nhập khẩu máy móc thiết bị và nguyên phụ liệu gia công chiếm tỷ trọng quá lớn (thường chiếm trên 80% tổng kim ngạch nhập khẩu), khiến cầu nhập khẩu co giãn rất thấp đối với biến động giá cả.

Sự chuyển dịch của cán cân thương mại từ thâm hụt nặng 14,1 tỷ USD năm 2008 sang thặng dư 8,71 tỷ USD năm 2012 và 2,52 tỷ USD năm 2016 mang tính chất cục bộ. Năm 2017, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thặng dư gần 30 tỷ USD, bù đắp cho mức thâm hụt hơn 26 tỷ USD của khu vực doanh nghiệp nội địa. Đồng thời, Việt Nam vẫn thâm hụt thương mại trên 30 tỷ USD từ Hàn Quốc và hơn 20 tỷ USD từ Trung Quốc.

Thảo luận kết quả

Thực trạng cán cân thương mại Việt Nam không phản ứng thuận chiều với việc phá giá tiền tệ trong dài hạn bắt nguồn từ đặc thù cơ cấu sản xuất định hướng gia công và lắp ráp. Khi đồng Việt Nam giảm giá, giá thành nhập khẩu linh kiện, nguyên phụ liệu đầu vào tăng theo, triệt tiêu lợi thế cạnh tranh về giá của hàng hóa xuất khẩu. Điều này giải thích tại sao sau đợt nâng tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng 9,3% vào năm 2015, cán cân thương mại vẫn quay lại trạng thái nhập siêu 3,6 tỷ USD trong năm đó.

Kết quả nghiên cứu này tương đồng với các phát hiện của Bahmani-Oskooee và Brooks (1999) đối với thị trường Hoa Kỳ và nghiên cứu của Ng Yuen-Ling cùng các cộng sự (2008) tại Malaysia, khi hiệu ứng đường cong J chỉ xuất hiện tạm thời hoặc không ổn định giữa các đối tác. Ngược lại, kết quả này có sự khác biệt nhất định với nghiên cứu của Sulaiman D Mohammad (2010) tại Pakistan, nơi việc định giá thấp đồng nội tệ mang lại hiệu quả cải thiện thương mại rõ nét hơn do cơ cấu hàng xuất khẩu ít thâm dụng nguyên liệu nhập khẩu.

Để trực quan hóa các kết luận trên, dữ liệu thực nghiệm có thể được trình bày hiệu quả qua hai dạng đồ thị:

  • Biểu đồ đường biểu diễn hàm phản ứng xung qua 8 quý mô tả rõ quỹ đạo đường cong J đi xuống trong 3 quý đầu trước khi đi lên tại quý 4.
  • Biểu đồ cột chồng thể hiện sự đối lập sâu sắc trong cán cân thương mại giữa khối doanh nghiệp trong nước (luôn thâm hụt từ 15 đến 26 tỷ USD/năm) và khối doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (luôn xuất siêu từ 10 đến 30 tỷ USD/năm giai đoạn 2012-2017).

Đề xuất và khuyến nghị

Thực thi chính sách tỷ giá trung tâm linh hoạt: Ngân hàng Nhà nước cần duy trì cơ chế công bố tỷ giá trung tâm hàng ngày dựa trên biến động của rổ 8 đến 15 đồng tiền đối tác chủ chốt kết hợp điều tiết biên độ giao dịch quanh mức 3%. Mục tiêu là nâng quy mô dự trữ ngoại hối quốc gia đạt mức an toàn tối thiểu tương đương 3 đến 4 tháng nhập khẩu (đạt trên 80 đến 100 tỷ USD) trong giai đoạn 2020-2025 nhằm tăng cường khả năng can thiệp thị trường khi phát sinh cú sốc ngoại sinh.

Phát triển công nghiệp hỗ trợ và nội địa hóa chuỗi cung ứng: Bộ Công Thương cần xây dựng lộ trình nâng tỷ lệ nội địa hóa các ngành công nghiệp mũi nhọn như dệt may, da giày và điện tử từ mức 30-35% lên 45-50% giai đoạn 2021-2025. Giải pháp này giúp giảm bớt sự phụ thuộc vào linh kiện nhập khẩu từ Trung Quốc và Hàn Quốc, kiềm chế mức nhập siêu từ hai thị trường này xuống dưới 20 tỷ USD mỗi năm.

Tối ưu hóa chính sách tài khóa và tín dụng xuất khẩu: Bộ Tài chính phối hợp với hệ thống ngân hàng thương mại triển khai các gói tín dụng ưu đãi với mức lãi suất vay thấp hơn từ 1,5% đến 2,0%/năm cho các doanh nghiệp xuất khẩu có tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa đạt trên 40%, thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bền vững ở mức 10-12%/năm.

Ứng dụng công cụ phái sinh phòng ngừa rủi ro tỷ giá: Cộng đồng doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần chủ động trích lập quỹ dự phòng và sử dụng các công cụ hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi ngoại tệ nhằm bao phủ ít nhất 60% đến 70% giá trị các hợp đồng thương mại quốc tế có thời hạn thanh toán trên 6 tháng, giảm thiểu rủi ro biến động tỷ giá hối đoái.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính: Tài liệu cung cấp cơ sở kinh tế lượng vững chắc để đánh giá mức độ định giá thực của đồng Việt Nam, hỗ trợ thiết kế cơ chế điều hành tỷ giá trung tâm và dự báo áp lực cán cân thanh toán quốc tế khi thị trường ngoại hối thế giới biến động.

Giám đốc tài chính và nhà quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu: Luận văn đưa ra phân tích chuyên sâu về rổ 15 đồng tiền thương mại, giúp các nhà quản lý doanh nghiệp xây dựng chiến lược định giá hàng hóa, lựa chọn đồng tiền thanh toán tối ưu và cắt giảm 10% đến 15% chi phí chênh lệch tỷ giá trong các giao dịch quy mô lớn.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Kinh tế quốc tế: Công trình là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu định lượng, minh họa chi tiết quy trình chạy mô hình Vector tự hồi quy, kiểm định nghiệm đơn vị Dickey-Fuller và kiểm định đồng liên kết Johansen trên chuỗi dữ liệu vĩ mô 44 quý.

Chuyên viên phân tích vĩ mô tại các ngân hàng thương mại và quỹ đầu tư: Nghiên cứu hỗ trợ xây dựng mô hình dự báo tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu, đánh giá tác động của thâm hụt thương mại đến tỷ giá danh nghĩa và lập chiến lược phân bổ danh mục đầu tư trái phiếu và cổ phiếu ngành xuất khẩu.

Câu hỏi thường gặp

Phá giá đồng Việt Nam có giúp cải thiện cán cân thương mại trong dài hạn không? Không. Kết quả kiểm định đồng liên kết Johansen trên chuỗi dữ liệu 44 quý khẳng định không tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa tỷ giá thực và cán cân thương mại. Năm 2008, dù tỷ giá tăng nhưng Việt Nam vẫn nhập siêu kỷ lục 14,1 tỷ USD do phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu.

Hiệu ứng đường cong J kéo dài trong bao lâu tại Việt Nam? Theo phân tích hàm phản ứng xung, hiệu ứng đường cong J kéo dài trong khoảng 2 đến 3 quý đầu với xu hướng cán cân thương mại suy giảm, trước khi phục hồi nhẹ vào quý thứ 4 và thứ 5, sau đó mức độ tác động triệt tiêu dần ở các quý tiếp theo.

Tại sao điều kiện Marshall-Lerner không được đáp ứng tại Việt Nam? Do cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam có hơn 80% là nguyên nhiên vật liệu và máy móc phục vụ gia công chế biến. Cầu đối với các mặt hàng này có độ co giãn theo giá rất thấp, khiến tổng giá trị tuyệt đối độ co giãn của xuất nhập khẩu không vượt qua ngưỡng 1.

Cơ chế tỷ giá trung tâm áp dụng từ năm 2016 mang lại hiệu quả gì? Cơ chế tỷ giá trung tâm giúp tỷ giá biến động linh hoạt theo tín hiệu thị trường và rổ tiền tệ của các đối tác chính, giảm thiểu tình trạng găm giữ ngoại tệ và đóng góp vào mức thặng dư thương mại 2,52 tỷ USD năm 2016 và 2,7 tỷ USD năm 2017.

Tại sao thặng dư thương mại của Việt Nam giai đoạn 2012-2016 được đánh giá là chưa bền vững? Vì thành tích xuất siêu chủ yếu dựa vào khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với mức xuất siêu gần 30 tỷ USD năm 2017, trong khi khối doanh nghiệp nội địa vẫn thâm hụt hơn 26 tỷ USD và phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu.

Kết luận

  • Không tồn tại mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa tỷ giá hối đoái thực đa phương và cán cân thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2006-2016.
  • Hiệu ứng đường cong J xuất hiện trong ngắn hạn với độ trễ từ 2 đến 3 quý suy giảm ban đầu trước khi có sự cải thiện nhẹ vào quý 4 và quý 5.
  • Điều kiện Marshall-Lerner không được thỏa mãn trong dài hạn do tính chất thâm dụng nhập khẩu của nền sản xuất gia công.
  • Cơ chế tỷ giá trung tâm linh hoạt là bước đột phá cần tiếp tục duy trì để thay thế hoàn toàn chính sách neo tỷ giá cố định truyền thống.
  • Cải thiện cán cân thương mại bền vững đòi hỏi phải nâng cao năng lực cạnh tranh nội tại và giảm mức thâm hụt thương mại của khu vực doanh nghiệp trong nước.

Đóng góp chính của luận văn là đã lượng hóa chuẩn xác tỷ giá thực hiệu lực đa phương dựa trên rổ 15 đồng tiền đối tác thương mại trọng điểm, ứng dụng thành công mô hình Vector tự hồi quy với 44 quan sát theo quý để kiểm chứng các lý thuyết thương mại quốc tế trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi của Việt Nam.

Trong giai đoạn 2020-2025, các hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng phân tích tác động của tỷ giá hối đoái đến từng ngành hàng xuất khẩu cụ thể như dệt may, nông sản, điện tử, đồng thời tích hợp các biến số về rào cản kỹ thuật và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Các nhà quản lý chính sách và lãnh đạo doanh nghiệp hãy chủ động ứng dụng các phát hiện thực nghiệm này vào công tác điều hành vĩ mô và quản trị tài chính nhằm bảo vệ nền kinh tế trước các biến động khó lường của thị trường tài chính quốc tế.