Đặt vấn đề Chăn nuôi lợn ở nƣớc ta đang trong đà phát triển mạnh, cung cấp một số lƣợng lớn thực phẩm và nguyên liệu là thịt lợn cho thị trƣờng trong nƣớc và xuất khẩu. Để nâng cao về số lƣợng và chất lƣợng sản phẩm từ chăn nuôi lợn, ngƣời chăn nuôi phải quan tâm nhiều hơn đến khâu chọn giống đặc biệt là nuôi lợn nái sinh sản. Khả năng sản xuất của lợn nái đƣợc đánh giá ở chất lƣợng và số lƣợng đàn con. Hiện nay, chăn nuôi lợn nái sinh sản đang đƣợc rất nhiều hộ chăn nuôi lựa chọn nhằm chủ động con giống cho giai đoạn nuôi thịt, tự mình có thể lựa chọn những con giống có chất lƣợng cao, hạn chế mầm bệnh từ ngoài trại xâm nhậm vào trại qua đƣờng con giống, giảm chi phí và thời gian bắt giống.
Tuy nhiên việc chăn nuôi lợn nái sinh sản yêu cầu kỹ thật cao và đòi hỏi ngƣời nuôi cần có kinh nghiệm xử lý các tình huống xảy ra tại trại. Giai đoạn lợn nái nuôi con đƣợc coi là thành quả của quá trình chăn nuôi lợn nái, nhƣng chính giai đoạn này lại có tỷ lệ hao hụt cao nhất, và chƣa thực sự đƣợc ngƣời chăn nuôi chú trọng. Theo thống kê tại Mỹ số lợn chết trong giai đoạn này chiếm 9,4 % tổng số heo đƣợc sinh ra trong đó số heo chết do mẹ đè chiếm 48,7%. Việc quản lý, chăm sóc trong giai đoạn này giúp lợn con khỏe mạnh và giúp phát triển hệ tiêu hóa cũng nhƣ nâng cao khả năng thich nghi với điều kiến sống mới để làm đƣợc điều đó ngƣời chăn nuôi cần hiểu rõ về các đặc điểm sinh lý cũng nhƣ các nhu cầu cần thiết của lợn và có những điều chỉnh sao cho phù hợp với từng mùa, giai đoạn phát triển của lợn trong năm.
Từ thực tế trên em đã thực hiện đề tài:“Theo dõi khả năng sinh trưởng và tình hình mắc hội chứng tiêu chảy của lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi tại trạiNguyễn Văn Chiêm Tam Dương – Vĩnh Phúc”. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục đích của chuyên đề - Đánh giá khả năng sinh trƣởng của lợn con giai đoạn theo mẹ. - Đánh giá đƣợc tình hình mắc hội chứng tiêu chảy của lợn con, tìm ra nguyên nhân và biện pháp phòng tránh nâng cao hiệu quả chăn nuôi.
Yêu cầu của chuyên đề - Nắm đƣợc khả năng sinh trƣởng của lợn con. - Điều tra tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con nuôi tại trại. - Có cơ sở khoa học để khuyến cáo ngƣời chăn nuôi và giúp đỡ địa phƣơng có định hƣớng cho phát triển chăn nuôi lợn. 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Điều kiện cơ sở thực tập 2. Quá trình thành lập và phát triển của trại chăn nuôi lợn ông Nguyễn Văn Chiêm Trang trại chăn nuôi lợn do ông Nguyễn Văn Chiêm là chủ trại, trƣớc đây là Doanh Nhiệp Tƣ Nhân Tùng Phát nằm trên địa phận xã Đạo Tú, huyện Tam Dƣơng, tỉnh Vĩnh Phúc. Trang trại đƣợc thành lập năm 2006, là trại lợn gia công của công ty chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam). Hoạt động theo phƣơng thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đƣa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật.
Hiện nay, trang trại do ông Nguyễn Văn Chiêm làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trang trại. Cơ sở vật chất của trang trại Trang trại chăn nuôi lợn ông Nguyễn Văn Chiêm nằm ở khu vực cánh đồi rộng lớn thuộc thửa 01, lô 2 (thôn Đoàn Kết II), có địa hình tƣơng đối bằng phẳng với diện tích là 5 ha. Trong đó: - Đất trồng rau, cây ăn quả: 1 ha - Đất xây dựng: 2,5 ha - Ao, hồ chứa nƣớc và nuôi cá: 1 ha Trang trại đã dành khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại. Khu chăn nuôi đƣợc quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 600 nái cơ bản bao gồm: 3 chuồng đẻ (mỗi chuồng có 56 ô), 1 chuồng lợn đực và nái chửa đƣợc nhốt chung, 1 chuồng cách ly, cùng một số công 4 trình phụ phục vụ cho chăn nuôi nhƣ: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc.
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn. Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 6 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, 8 quạt thông gió đối với chuồng nái chửa và 2 quạt đối với chuồng cách ly. Hai bên tƣờng có dãy cửa sổ lắp kính. Mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m2, cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm.
Trên trần đƣợc lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh. Phòng pha tinh của trại đƣợc trang bị các dụng cụ hiện đại nhƣ: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác. Trong khu chăn nuôi, đƣờng đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều đƣợc đổ bê tông và có các hố sát trùng. Hệ thống nƣớc trong khu chăn nuôi đều là nƣớc giếng khoan.
Nƣớc uống cho lợn đƣợc cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu 3 chuồng nái đẻ và 1 chuồng nái chửa. Nƣớc tắm và nƣớc xả gầm, phục vụ cho công tác khác, đƣợc bố trí từ tháp bể lọc và đƣợc bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng. Cơ cấu tổ chức của trại Cơ cấu của trại đƣợc tổ chức nhƣ sau: - 1 chủ trại - 1 quản lý trại - 1 quản lý kỹ thuật - 1 kế toán - 8 công nhân - 5 sinh viên Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau nhƣ tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, nhà bếp. Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều đƣợc khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trang trại.
Đối tượng nuôi và các kết quả sản xuất tại cơ sở - Đối tương nuôi của trại Trại Chiêm Vĩnh Phúc là trại tƣ nhân gia công cho công ty CP Việt Nam, công ty cung cấp giống, thức ăn và bao tiêu sản phẩm. Trại nuôi lợn nái và xuất bán lợn con, quy mô trại 600 nái. Giống lợn của trại đƣợc công ty CP cung cấp gồm các giống: Yorkshire, landrace, Duroc,…. - Kết quả sản xuất tại cơ sở Hiện nay trung bình lợn nái của trại sản xuất đƣợc 2,45 - 2,47 lứa/năm.
Số con sơ sinh là 11,23 con/đàn, số con cai sữa: 10,7 con/đàn. Trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam. Tại trại, lợn con theo mẹ đƣợc nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngàythì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại chăn nuôi lợn giống của công ty. Trong trại có 8 con lợn đực giống đƣợc chuyển về cùng một đợt, các lợn đực giống này đƣợc nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo.
Tinh lợn đƣợc khai thác từ 2 giống lợn Pietrain và Duroc. Lợn nái đƣợc phối 3 lần và đƣợc luân chuyển giống cũng nhƣ con đực. Cơ cấu đàn lợn nái của trại trong 3 năm gần đây Qua điều tra số liệu sổ sách theo dõi của trại thì cơ cấu đàn lợn nái của trại 3 năm gần đây tính đến tháng 11 năm 2016 đƣợc thể hiện ở bảng 2. Cơ cấu đàn lợn náicủa trại lợn ông Nguyễn Văn Chiêm (2014 – 2016) Số lƣợng lợn nái của các năm (con) Loại lợn nái Năm Năm Năm 2014 2015 2016 Lợn nái sinh sản 552 556 575 Lợn nái hậu bị 56 68 120 Tổng số 608 624 695 (Nguồn: Trại cung cấp) 6 Qua bảng 2.
cho thấy: Số lƣợng lợn nái sinh sản của trại không có biến động lớn giữa những năm trƣớc và năm sau. Số lƣợng lợn có xu hƣớng tăng lên, đặc biệt là lợn nái hậu bị tăng lên với số lƣợng lớn nhằm thay thế cho các lợn nái sinh sản không đủ tiêu chuẩn và phải loại thải 2. Đánh giá chung - Thuận lợi Đƣợc sự quan tâm của Ủy ban nhân dân xã tạo điều kiện cho sự phát triển của trang trại. Trang trại đƣợc xây dựng ở vị trí thuận lợi: Xa khu dân cƣ, thuận tiện đƣờng giao thông.
Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt đƣợc tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân. Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất. Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lƣợng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại. - Khó khăn Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh lớn, làm ảnh hƣởng đến giá thành và khả năng sinh sản của lợn.
Trang thiết bị vật tƣ, hệ thống chăn nuôi đã cũ, có phần bị hƣ hỏng. Số lƣợng lợn nhiều, lƣợng nƣớc thải lớn, việc đầu tƣ cho công tác xử lý nƣớc thải của trại còn nhiều khó khăn. Cơ sở khoa học liên quan đếnchuyên đề 2. Sinh trưởng và phát dục ở lợn 2.
Khái niệm về sinh trưởng và phát dục Sinh trƣởng là quá trình tích lũy hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng về chiều dài bề ngang, khối lƣợng của các bộ phân và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trƣớc. 7 Phát dục là quá trình thay đổi về chất lƣợng tức là tăng thêm, hoàn chỉnh các tính chất, chức năng các bộ phận của gia súc (Trần Đình Miên, 1975)[21]. Sự sinh trƣởng và phát dục đƣợc đặc biết quan tâm trong nhân giống vật nuôi. Sinh trƣởng đƣợc thể hiện rõ nhất là sự tăng về khối lƣợng và kích thƣớc xảy ra các giai đoạn tuổi và đƣợc biểu diễn dƣới dạng đƣờng cong hình chữ S (Sigmoid).
Giai đoạn tuổi Hình 2.1: Biểu đồ biểu diễn sự sinh trưởng của lợn Đƣờng cong này chỉ ra rằng, đời sống đƣợc bắt đầu vào lúc thụ thai và phát triển nhanh tới lúc sinh ra và sau khi sinh ra đến lúc thành thục về tính. Sau tuổi thành thục về tính thì tốc độ sinh trƣởng sẽ chậm lại đến khi trƣởng thành thì dừng lại. Khối lƣợng cơ thể là một tính trạng số lƣợng phụ thuộc vào loài, giống, giới tính, lứa tuổi và hƣớng sản xuất.