Tổng quan luận án

Công trình "Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng thời kỳ trước năm 1945" do nghiên cứu sinh Đào Thị Lý thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên (năm 2015), thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số 62 22 01 21, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Trần Đăng Xuyền và PGS. TS Trần Thị Việt Trung.

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Nhà văn Nguyên Hồng (1918-1982) có hơn 40 năm cầm bút với hơn 60 tác phẩm. Giai đoạn 1936-1945 là chặng đường sáng tác tiêu biểu nhất của ông với 54 truyện ngắn, 03 truyện vừa, 01 hồi ký và 03 tiểu thuyết. Mặc dù đã có khoảng hơn 50 công trình và hơn 20 bài viết tiếp cận các khía cạnh sáng tác của Nguyên Hồng, nhưng phần lớn mới dừng lại ở những nhận định khái quát hoặc khảo sát trên từng tác phẩm riêng lẻ (chủ yếu là Bỉ vỏ và Những ngày thơ ấu). Trước công trình này, chưa có nghiên cứu chuyên biệt nào khảo sát có hệ thống và toàn diện chỉnh thể thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng trong toàn bộ chặng đường sáng tác trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.
  • Mục tiêu nghiên cứu:
    1. Khẳng định Nguyên Hồng đã kiến tạo một thế giới nghệ thuật riêng biệt trong tiến trình sáng tác văn xuôi.
    2. Ghi nhận những đóng góp cụ thể của nhà văn đối với trào lưu văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930-1945 nói riêng và nền văn xuôi Việt Nam hiện đại nói chung.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu hệ thống nhân vật và các thủ pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật trong sáng tác của Nguyên Hồng trước năm 1945.
    2. Phân tích các đặc điểm của không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật.
    3. Khảo sát các đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật mang chất liệu đời sống cần lao và dấu ấn tôn giáo.
    4. Khẳng định giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong các sáng tác trước năm 1945.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các tác phẩm của Nguyên Hồng giai đoạn trước năm 1945 (truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, hồi ký). Đồng thời, luận án có sự khảo sát, đối chiếu mở rộng với sáng tác sau năm 1945 của tác giả và các tác phẩm cùng thời của các cây bút khác.
    • Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung vào ba thành tố cơ bản: thế giới nhân vật, thời gian - không gian nghệ thuật và ngôn ngữ nghệ thuật. Các phương diện đề tài, chủ đề được kế thừa từ các công trình trước và không đi sâu thành các chương riêng biệt.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Lịch sử nghiên cứu về văn nghiệp Nguyên Hồng được tác giả phân loại theo các giai đoạn và các bình diện học thuật:

1. Các nghiên cứu trước năm 1945

Ngay khi tác phẩm đầu tay Bỉ vỏ (1937) nhận giải thưởng của Tự lực văn đoàn, giới phê bình đương thời đã có những phản hồi:

  • Thạch Lam (1937, 1938, 1940): Nhận xét văn Nguyên Hồng minh bạch, giản dị, tả những tình cảm chân thật, đồng thời chỉ ra một số câu văn thuở đầu chưa gãy gọn. Khi viết Lời tựa cho tập hồi ký Những ngày thơ ấu (1940), Thạch Lam nhấn mạnh khả năng nắm bắt những rung động của một tâm hồn trẻ thơ.
  • Trọng Quy (1938): Đánh giá Bỉ vỏ như một thiên phóng sự miêu tả sinh hoạt xã hội của một cây bút mới mẻ, khơi gợi sự cảm động.
  • Trương Chính (1939, trong chuyên luận Dưới mắt tôi): Đưa ra đánh giá khắt khe về kỹ thuật tiểu thuyết của Bỉ vỏ, nhận xét việc sắp xếp tình tiết còn thô sơ nhưng ghi nhận tính thành thực và cách dồn nén tai ương lên số phận nhân vật.
  • Vũ Ngọc Phan (1942, trong Nhà văn hiện đại): Khẳng định tư tưởng nhân từ, bác ái tràn lan trong tác phẩm của Nguyên Hồng, xem ông là nhà văn xã hội hướng về ánh sáng.
  • Lương Đức Thiệp (1944, trong Văn chương và xã hội): Nhận định văn Nguyên Hồng thể hiện tình cảm thiết tha của tác giả dành cho các nhân vật.
  • Dương Quảng Hàm (1941, trong Việt Nam văn học sử yếu): Xếp Nguyên Hồng vào khuynh hướng tả thực cùng với Vũ Trọng Phụng và Trọng Lang.

2. Các nghiên cứu từ sau năm 1945 đến nay

  • Về phong cách và cảm hứng sáng tác: Nguyễn Đăng Mạnh phân tích hoàn cảnh sống và chỉ ra phong cách lãng mạn kết hợp hiện thực với những tính cách phi thường, tình huống dữ dội; Phan Cự Đệ khẳng định chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc và chất trữ tình say đắm; Hà Minh Đức định danh Nguyên Hồng là "nhà văn của những khát vọng sống"; Chu Nga nhấn mạnh tính nhất quán logic trong tư tưởng của Nguyên Hồng trước và sau năm 1945; Vương Trí Nhàn xem sáng tác của ông là sản phẩm giàu chất tự truyện xuất phát từ "cuộc đời sáng tạo trong đau khổ"; Phan Diễm Phương và Đỗ Trung Thoại tập trung vào cảm hứng cần lao.
  • Về nghệ thuật ngôn từ và không gian, thời gian: Lê Hồng My (Lời văn nghệ thuật Nguyên Hồng) khảo sát cấu trúc lời văn trần thuật, độc thoại, biệt ngữ tôn giáo và tiếng lóng; Nguyễn Đăng Điệp chỉ ra chất trữ tình trong hồi ký; Linh Thi nhận xét về cấu trúc câu văn tầng lớp; Bạch Văn Hợp khảo sát thành ngữ và ngôn ngữ tạo ấn tượng; Đào Đức Doãn phân tích cảm quan tôn giáo; NSƯT Đào Quang nhận diện chất kịch và chất sân khấu trong văn xuôi Nguyên Hồng.
  • Các luận án, luận văn chuyên ngành liên quan: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Duy Tờ (nghiên cứu sự vận động của dòng văn học hiện thực); Luận án tiến sĩ của Phạm Hồng Lan (2009, khảo sát không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết hiện thực, giới hạn ở tác phẩm Bỉ vỏ); Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu Hoài (về lý tưởng thẩm mỹ); Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Thanh Yến (về thế giới nhân vật trong truyện ngắn trước năm 1945).
Nhóm công trình / Tác giả Đối tượng và phạm vi tiếp cận chính Điểm giới hạn mà luận án nhận diện
Phê bình trước 1945 (Thạch Lam, Trương Chính, Vũ Ngọc Phan...) Đánh giá trực tiếp các tác phẩm đầu tay (Bỉ vỏ, Những ngày thơ ấu) Mang tính cảm nhận, điểm sách hoặc phê bình bước đầu.
Nghiên cứu sau 1945 (Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ, Chu Nga...) Tư tưởng nhân đạo, cảm hứng cần lao, phong cách nghệ thuật tổng quát Nhận định mang tính khái quát toàn bộ sự nghiệp, chưa đi vào hệ thống thi pháp trước 1945.
Chuyên luận chuyên biệt (Lê Hồng My, Phạm Hồng Lan, Bạch Văn Hợp...) Từng bình diện riêng lẻ: lời văn, phong cách, hoặc không gian - thời gian trong 1 tác phẩm (Bỉ vỏ) Chưa bao quát toàn bộ các phương diện của thế giới nghệ thuật trong toàn bộ sáng tác giai đoạn 1936-1945.
  • Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Khảo sát chỉnh thể thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng trước năm 1945 thông qua ba trụ cột: hệ thống nhân vật và nghệ thuật thể hiện; không gian và thời gian nghệ thuật; ngôn ngữ nghệ thuật.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1. Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm

  • Khái niệm Thế giới nghệ thuật: Luận án vận dụng định nghĩa từ Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi) và các công trình thi pháp học của Trần Đình Sử. Thế giới nghệ thuật được hiểu là chỉnh thể của hình thức văn học, một mô hình thế giới mang tính cảm tính do nhà văn sáng tạo ra, bao gồm sự thống nhất giữa đề tài, chủ đề, hệ thống nhân vật, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật, ngôn ngữ và giọng điệu.
  • Khung phân tích thành tố:
    • Nhân vật văn học: Đơn vị nghệ thuật mang tính ước lệ, thể hiện quan niệm của tác giả về con người và thang bậc giá trị.
    • Thời gian nghệ thuật: Sự cảm nhận về thời gian bên trong hình tượng nghệ thuật, thể hiện đặc điểm tư duy nghệ thuật của tác giả.
    • Không gian nghệ thuật: Hình thức bên trong của hình tượng, bao gồm không gian địa lý - vật thể và không gian tâm tưởng.
    • Ngôn ngữ nghệ thuật: Chất liệu biểu đạt thứ nhất của văn học, tổ chức qua các lớp từ vựng, cú pháp và phương thức tu từ.

2. Phương pháp nghiên cứu

Luận án thuộc khuynh hướng nghiên cứu văn học định tính, sử dụng kết hợp các phương pháp:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích các tầng bậc văn bản tác phẩm để rút ra những đặc điểm bản chất về nội dung và thi pháp, từ đó tổng hợp thành các quy luật trong thế giới nghệ thuật Nguyên Hồng.
  • Phương pháp thống kê - phân loại: Thống kê và phân loại các kiểu dạng nhân vật, các dạng thức không gian, thời gian và các lớp từ vựng đặc thù (tiếng lóng, thuật ngữ tôn giáo).
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu:
    • So sánh đồng đại giữa sáng tác của Nguyên Hồng với các tác giả hiện thực cùng thời (Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan).
    • So sánh lịch đại giữa giai đoạn trước năm 1945 và sau năm 1945 của chính tác giả Nguyên Hồng.
  • Phương pháp thi pháp học: Tiếp cận tác phẩm dưới góc độ cấu trúc hình thức mang tính quan niệm (thi pháp nhân vật, thi pháp không gian - thời gian).

3. Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Các văn bản sáng tác của Nguyên Hồng giai đoạn 1936-1945 (54 truyện ngắn, 03 truyện vừa, 01 hồi ký, 03 tiểu thuyết).
  • Tập hồi ký tự truyện Những ngày thơ ấu, chuyên luận tự thuật Bước đường viết văn.
  • Hệ thống văn bản đối sánh: tiểu thuyết Cửa biển (sáng tác sau 1945), các tác phẩm Tắt đèn, Chí Phèo, Giông tố, Số đỏ, Sống mòn.
  • Tài liệu lịch sử, xã hội: văn kiện Đề cương về Văn hóa Việt Nam (1943), tài liệu về phong trào Mặt trận Dân chủ (1936-1939) và phong trào công nhân Hải Phòng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này điểm lại toàn diện lịch sử nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp văn học của Nguyên Hồng từ năm 1937 đến năm 2013. Tác giả tổng thuật các luồng ý kiến phê bình đương thời trước năm 1945, các công trình nghiên cứu sau năm 1945 của các nhà nghiên cứu đầu ngành, các luận án, luận văn chuyên môn và kỷ yếu Hội thảo khoa học kỷ niệm 95 năm ngày sinh nhà văn tại Hải Phòng (11/2013). Chương 1 xác lập cơ sở khoa học, khẳng định sự cần thiết của việc nghiên cứu có hệ thống về thế giới nghệ thuật của tác giả trong giai đoạn trước năm 1945.

Chương 2: Khái niệm Thế giới nghệ thuật và những cơ sở hình thành nên Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng

Nội dung chương 2 gồm hai phần chính:

  • Giới thuyết chung về khái niệm Thế giới nghệ thuật: Phân tích các thành tố cấu thành (đề tài, chủ đề, nhân vật, thời gian, không gian, ngôn ngữ) dựa trên hệ thống lý luận văn học hiện đại.
  • Những cơ sở hình thành thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng:
    • Hoàn cảnh lịch sử - xã hội: Tác động của cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, quá trình đô thị hóa, sự hình thành tầng lớp dân nghèo thành thị và vô sản; bối cảnh khủng hoảng kinh tế, ách thống trị phát xít - thực dân (1939-1945); phong trào Mặt trận Dân chủ và sự tiếp nhận các tài liệu cách mạng (Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Vấn đề dân cày, Ngục Kon Tum, Đề cương về Văn hóa Việt Nam năm 1943).
    • Hoàn cảnh gia đình và môi trường sống: Tuổi thơ cơ cực tại Nam Định trong gia đình theo đạo Thiên Chúa không có hạnh phúc; mồ côi cha năm 12 tuổi; sự kiện bị tù năm 14 tuổi do bảo vệ mẹ; cuộc sống lao động cùng cực từ năm 16 tuổi tại các xóm lao động, bến bãi nghèo ở Hải Phòng.
    • Cá tính sáng tạo: Trái tim nhạy cảm, dễ xúc động, lòng gắn bó với người nghèo khổ và ý thức nghề nghiệp: xác định viết văn là đứng về phía những người đói khổ, lầm than.

Chương 3: Thế giới nhân vật

Chương này đi sâu phân tích hệ thống nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyên Hồng trước năm 1945:

  • Các kiểu nhân vật thuộc tầng lớp thị dân và lao động dưới đáy xã hội:
    • Phụ nữ nghèo khổ, bất hạnh, cùng đường, nổi loạn: Nhân vật nữ chịu nhiều tầng áp bức phong kiến và xã hội (tiêu biểu như Tám Bính trong Bỉ vỏ), bị đẩy vào cảnh ngộ bần cùng nhưng giữ lòng khao khát lương thiện hoặc phản kháng tuyệt vọng.
    • Trẻ em nghèo dưới đáy xã hội, "không có tuổi thơ": Những đứa trẻ mồ côi, đói rách, lang thang kiếm sống, chịu cảnh đày đọa (tiêu biểu như chú bé Hồng trong Những ngày thơ ấu).
    • Trí thức tiểu tư sản nghèo, giàu hoài bão nhưng bất lực và bế tắc: Những thanh niên có lý tưởng nhưng bị hoàn cảnh cơm áo ghì sát đất, rơi vào bế tắc tinh thần.
    • Nhân vật tha hóa: Những con người bị hoàn cảnh xã hội thực dân biến dạng nhân tính, trượt dài vào con đường lưu manh, tội lỗi (các nhân vật giang hồ, trộm cắp nơi bến bãi thành thị).
  • Các thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu xây dựng nhân vật:
    • Nghệ thuật tạo dựng hoàn cảnh và tình huống: Đặt nhân vật vào những hoàn cảnh ngặt nghèo, những xung đột gay gắt mang tính kịch để bộc lộ phẩm chất nội tâm.
    • Nghệ thuật miêu tả ngoại hình: Sử dụng những nét vẽ tả thực góc cạnh, khắc họa dấu vết của lao động nhọc nhằn, sự đói khát và lam lũ.
    • Nghệ thuật miêu tả tâm lý: Khai thác trạng thái tự vấn, sự dằn vặt nội tâm, những rung động cảm xúc ở cường độ cao và niềm tin tôn giáo / đạo lý bản năng.

Chương 4: Thời gian, không gian và ngôn ngữ nghệ thuật

Chương này khảo sát ba thành tố hình thức mang tính quan niệm:

  • Thời gian nghệ thuật:
    • Thời gian gắn liền với biến cố dữ dội: Nhịp điệu thời gian dồn dập theo những tai ương, biến cố liên tiếp giáng xuống số phận nhân vật.
    • Thời gian của con người cá nhân: Thời gian tâm trạng kéo dài lê thê, gắn với những hồi ức đau đớn và sự tự ý thức của cái "Tôi".
  • Không gian nghệ thuật:
    • Không gian xã hội đen tối, nhức nhối: Không gian thành phố Cảng Hải Phòng với bến tàu, khu ổ chuột, nhà tù, chốn giang hồ đầy bất công và tội lỗi.
    • Không gian gia đình bi kịch, tan tác: Bầu không khí ngột ngạt của những mái nhà phong kiến cổ hủ, thiếu vắng tình thương.
    • Không gian mang sắc thái tôn giáo: Khung cảnh nhà thờ, xóm đạo trầm buồn, ảm đạm, gắn liền với tiếng chuông và những nghi thức sám hối.
  • Ngôn ngữ nghệ thuật:
    • Ngôn ngữ đầy ắp chất liệu đời sống cần lao: Hệ thống từ ngữ đời thường, tiếng lóng của giới giang hồ, khẩu ngữ mộc mạc, cấu trúc câu văn tầng lớp, ngồn ngộn chi tiết thực tế.
    • Ngôn ngữ mang sắc thái tôn giáo: Việc sử dụng các thuật ngữ, điển tích, cảm thức sám hối và lòng bác ái của Kitô giáo được chuyển hóa tự nhiên vào văn cảnh tự sự.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt lý luận và khoa học:

    • Đây là công trình chuyên biệt đầu tiên khảo sát có hệ thống và toàn diện thế giới nghệ thuật của nhà văn Nguyên Hồng trong giai đoạn trước năm 1945 theo hướng tiếp cận thi pháp học.
    • Luận án phân tích sự vận động nội tại của thế giới nghệ thuật Nguyên Hồng, chỉ rõ sự kết hợp giữa bút pháp hiện thực phê phán nghiêm ngặt với cảm hứng trữ tình lãng mạn và màu sắc tôn giáo nhân văn.
    • Làm sáng tỏ vị trí giao thoa của Nguyên Hồng: cây bút hiện thực phê phán tiếp cận sớm và mật thiết nhất với khuynh hướng văn học cách mạng giai đoạn 1930-1945.
  2. Về mặt thực tiễn:

    • Cung cấp bức tranh phân loại chi tiết về hệ thống nhân vật dưới đáy xã hội đô thị và các thủ pháp miêu tả tâm lý, ngoại hình đặc thù của Nguyên Hồng.
    • Định hình rõ nét các kiểu không gian (đô thị bến bãi, gia đình bi kịch, không gian tôn giáo) và thời gian nghệ thuật trong văn xuôi hiện thực trước năm 1945.
    • Phân tích cấu trúc ngôn ngữ giàu chất liệu hiện thực và từ ngữ tầng lớp lao động, góp phần làm sáng tỏ tiến trình hiện đại hóa ngôn ngữ văn xuôi tiếng Việt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Do giới hạn phạm vi nghiên cứu, luận án chỉ tập trung vào các sáng tác của Nguyên Hồng trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 và không đi sâu thành chương riêng về hai yếu tố đề tài, chủ đề do các bình diện này đã được giới nghiên cứu trước đó làm rõ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng khảo sát toàn diện thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng ở giai đoạn sau năm 1945, đặc biệt là thi pháp thể loại của bộ tiểu thuyết sử thi nhiều tập Cửa biển.
    • Nghiên cứu so sánh liên ngành giữa văn học và nghệ thuật sân khấu đối với sáng tác của Nguyên Hồng (khai thác phương diện chất kịch và kết cấu kịch tính trong văn xuôi).

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Ngữ văn: Luận án là tài liệu chuyên khảo về thi pháp tác giả, cung cấp khung phương pháp luận nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong văn xuôi hiện thực phê phán.
  • Đối với giảng viên và giáo viên phổ thông: Cung cấp nguồn ngữ liệu và hệ thống luận điểm hỗ trợ trực tiếp việc giảng dạy các tác phẩm của Nguyên Hồng trong chương trình Ngữ văn các cấp (như đoạn trích Trong lòng mẹ - hồi ký Những ngày thơ ấu, tiểu thuyết Bỉ vỏ).
  • Đối với các nhà nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam: Cung cấp tư liệu hệ thống về sự phát triển của văn học hiện thực đô thị và quá trình hiện đại hóa văn xuôi quốc ngữ nửa đầu thế kỷ XX.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu cụ thể là gì?
Trả lời: Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ các tác phẩm của Nguyên Hồng giai đoạn trước năm 1945 (gồm 54 truyện ngắn, 03 truyện vừa, 01 hồi ký và 03 tiểu thuyết), có đối chiếu mở rộng với sáng tác sau 1945 và tác phẩm của các nhà văn cùng thời. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào ba thành tố: thế giới nhân vật, thời gian - không gian nghệ thuật và ngôn ngữ nghệ thuật.

2. Thế giới nhân vật trong sáng tác của Nguyên Hồng trước năm 1945 gồm những kiểu loại cơ bản nào?
Trả lời: Luận án phân loại thành bốn kiểu nhân vật chính thuộc tầng lớp thị dân và lao động dưới đáy xã hội:

  • Những người phụ nữ nghèo khổ, bất hạnh, cùng đường, nổi loạn.
  • Những đứa trẻ nghèo dưới đáy xã hội, "không có tuổi thơ".
  • Những người trí thức tiểu tư sản nghèo, giàu hoài bão nhưng bất lực và bế tắc.
  • Những nhân vật con người tha hóa.

3. Cơ sở thực tế và tiểu sử nào hình thành nên thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng?
Trả lời: Luận án chỉ ra ba nhóm cơ sở:

  • Bối cảnh xã hội: Khủng hoảng kinh tế, quá trình đô thị hóa, ách áp bức thuộc địa và ánh sáng từ phong trào Mặt trận Dân chủ cùng Đề cương về Văn hóa Việt Nam (1943).
  • Hoàn cảnh gia đình và môi trường sống: Gia đình theo đạo Thiên Chúa bất hòa; tuổi thơ thiếu vắng tình thương tại Nam Định; trải nghiệm tù tội năm 14 tuổi; cuộc sống kiếm sống cùng cực tại các xóm lao động nghèo ở thành phố Hải Phòng từ năm 16 tuổi.
  • Cá tính sáng tạo: Trái tim giàu lòng thương cảm, luôn gắn bó trung thành với tầng lớp cần lao.

4. Không gian nghệ thuật trong sáng tác Nguyên Hồng trước năm 1945 mang những đặc trưng gì?
Trả lời: Luận án phân tích ba kiểu không gian tiêu biểu:

  • Không gian xã hội đen tối, nhức nhối, đầy bất công và tội lỗi (đặc trưng bởi thành phố Cảng Hải Phòng, các khu nhà ổ chuột, bến bãi, chốn giang hồ).
  • Không gian gia đình đầy bi kịch buồn đau, tan tác.
  • Không gian mang sắc thái tôn giáo trầm buồn, ảm đạm.

5. Điểm mới cơ bản của luận án so với các công trình nghiên cứu trước đó là gì?
Trả lời: Đây là công trình chuyên biệt đầu tiên nghiên cứu chỉnh thể thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng thời kỳ trước năm 1945 một cách toàn diện và có hệ thống trên cả ba bình diện: nhân vật, thời gian - không gian và ngôn ngữ nghệ thuật, thay vì chỉ tiếp cận từng tác phẩm đơn lẻ hoặc nhận định khái quát như các nghiên cứu trước đây.

Kết luận

Luận án "Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng thời kỳ trước năm 1945" của tác giả Đào Thị Lý đã khảo sát toàn diện các phương diện thi pháp trong chặng đường sáng tác đầu tiên của nhà văn. Công trình đã làm rõ hệ thống nhân vật dưới đáy xã hội, các chiều kích không gian - thời gian mang tính xã hội và tâm tưởng, cùng cấu trúc ngôn ngữ giàu chất sống cần lao xen lẫn sắc thái tôn giáo. Kết quả nghiên cứu khẳng định vị trí của Nguyên Hồng như một tác gia tiêu biểu của trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930-1945, người đã kết hợp sâu sắc tinh thần nhân đạo thống thiết với ý thức cách mạng tiến bộ trong tiến trình hiện đại hóa văn xuôi Việt Nam.