Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu chung về Nguyên Hồng Gần 3/4 thế kỷ trôi qua - kể từ khi cuốn tiểu thuyết Bỉ vỏ của Nguyên Hồng ra đời và được nhận Giải thưởng của Tự lực văn đoàn (1937) - đã có rất nhiều bài viết, những công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp, những đóng góp của nhà văn. Cho đến nay, việc nghiên cứu về Nguyên Hồng cũng vẫn đang được tiếp tục và đã đạt được nhiều thành tựu đáng trân trọng. Điều đó chứng tỏ sức sống của tác phẩm Nguyên Hồng rất bền vững trong lòng người đọc nhiều thế hệ, và theo thời gian những giá trị đặc biệt của nó ngày càng được phát hiện, được khẳng định một cách trân trọng.
Theo khảo sát của chúng tôi, đến nay đã có khoảng hơn 50 công trình nghiên cứu chung về Nguyên Hồng, trong đó có khoảng 20 bài nghiên cứu có đề cập đến phương diện Thế giới nghệ thuật. Bên cạnh đó có hàng chục luận án, luận văn khoa học nghiên cứu về sáng tác của ông. Đặc biệt khi ông qua đời, đã có hơn 20 bài viết về những Hồi ức và kỷ niệm về nhà văn, thể hiện tình cảm trân trọng tài năng và nhân cách của Nguyên Hồng trong lòng bạn bè, đồng nghiệp và bạn đọc. Ngay từ trước năm 1945, có một số nhà nghiên cứu đã phát hiện tài năng văn học của nhà văn, đã đánh giá được những mặt mạnh, mặt hạn chế của ngòi bút Nguyên Hồng.
Theo khảo sát của chúng tôi, đã có một số bài viết nhận xét, đánh giá về văn chương của Nguyên Hồng của các tác giả: Thạch Lam, Trọng Quy, Trương Chính, Vũ Ngọc Phan… Cụ thể, khi tiểu thuyết Bỉ vỏ được nhận Giải thưởng của Tự lực văn đoàn, Thạch Lam đã nhận xét về văn của Nguyên Hồng như sau: ''Văn lúc nào cũng minh bạch, giản dị, một đôi khi thấm thía, rung động, có nhiều đoạn đẹp đẽ và sâu sắc… ông quan sát khéo, chỉ tả những cái gì đáng để ý, những tình cảm chân thật, những cảm giác đúng” [116, tr. Đồng thời tác giả cũng chỉ ra nhược điểm khó tránh khỏi của một người mới vào nghề viết văn, đó là:“Nhiều chỗ vụng về, cẩu thả, nhiều câu văn chưa gãy gọn. Nhưng đó là những lỗi của một người mới viết văn và sẽ mất đi với kinh nghiệm và từng trải trong nghề ” [116; tr. Tuy nhiên, trong khuôn khổ nhận xét của một Giải thưởng, Thạch Lam mới chỉ dừng lại ở một vài dòng như vậy về tác giả trẻ tuổi này.
7 Cũng năm 1938, khi giới thiệu Bỉ vỏ, tác giả Trọng Quy đã nhận xét: “Tác phẩm không hổ thẹn với sự được Ban giám khảo chú ý đến”, vì đây là “một thiên phóng sự tả rõ cách sinh hoạt của một hạng người” của “một cán bút linh hoạt mới mẻ”, “biết làm cho người khác phải cảm động” [127, tr. Trọng Quy đã khẳng định vị trí xứng đáng của Bỉ vỏ khi được nhận Giải thưởng Tự lực văn đoàn chính là ở sự mới mẻ của cây bút Nguyên Hồng cũng như tính nhân đạo của tác phẩm. Tuy nhiên, không chỉ có những ý kiến ghi nhận sự thành công của Bỉ vỏ, mà còn có những đánh giá về hạn chế của tác phẩm này. Năm 1939, Trương Chính đã nhận xét về Bỉ vỏ khi ông nhìn nhận từ góc độ Dưới mắt tôi như sau: “Quyển Bỉ vỏ là một quyển tiểu thuyết tầm thường, không đặc sắc.
Tác giả còn thiếu nghệ thuật, thiếu kinh nghiệm, ngòi bút của ông còn non nớt, vụng về”.; các tình tiết “được sắp đặt một cách thô sơ… Nhà văn ấy kiên tâm và thành thực, nhưng ông chỉ thành công lúc ông giản dị và sâu sắc hơn” [17, tr. 173], đây là một nhận xét nghiêm khắc và khách quan về nghệ thuật của một cuốn tiểu thuyết đầu tay của Nguyên Hồng. Năm 1940, khi viết Lời tựa cho tập tiểu thuyết tự truyện Những ngày thơ ấu, Thạch Lam đã nhận thấy khả năng thể hiện “những rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại” của ngòi bút Nguyên Hồng… Tác giả của Gió lạnh đầu mùa đã rất tinh tế khi nhận thấy những cảm xúc chân thành của một trái tim dễ xúc động qua từng trang hồi ký đẫm nước mắt của nhà văn hiện thực trẻ tuổi này. Trong cuốn Nhà văn hiện đại, năm 1942, Vũ Ngọc Phan đã công phu giới thiệu gương mặt 78 nhà văn Việt Nam, trong đó có nhà văn Nguyên Hồng.
Về Nguyên Hồng, tác giả đã khẳng định sự thành công của nhà văn qua những sáng tác đầu tay, nhất là cuốn Bỉ vỏ của ông. Vũ Ngọc Phan nhận xét: “truyện thật là hay… cách viết có mạch lạc mà đi đến đoạn kết một cách tự nhiên”, đồng thời ông cũng đưa ra một nhận định khái quát khá chính xác về tư tưởng nghệ thuật của “nhà văn xã hội này”: “Ở tập văn nào của Nguyên Hồng cũng vậy, tư tưởng nhân từ, bác ái của tác giả bao giờ cũng tràn lan và đó chính là cái phần cốt yếu của nhà văn xã hội cầu mong ánh sáng” [116, tr. Như vậy, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã chỉ ra được cái cốt lõi, cái đặc trưng và giá trị trong sáng tác của Nguyên Hồng, đó là: Tư tưởng nhân đạo và khát vọng có một xã hội công bằng tốt đẹp hơn, nhất là đối với những người nghèo khổ. 8 Năm 1944, trong cuốn “Văn chương và xã hội” (Đại học Thư xã Hà Nội), khi nghiên cứu một số tác phẩm của Nguyên Hồng thời kỳ trước cách mạng như “Bỉ vỏ”, “Bảy Hựu”, “Những ngày thơ ấu”, tác giả Lương Đức Thiệp nhận xét: đây là “cây bút linh động cho ta cảm thấy sâu xa lòng yêu thiết tha của chính tác giả đối với các nhân vật trong truyện” [159, tr.
Nhận xét này khẳng định thêm tính nhân đạo của nhà văn Nguyên Hồng. Qua một số ý kiến, nhận xét trên, chúng ta nhận thấy khá rõ một điểm: ngay đương thời, người ta cũng đã chỉ ra những mặt mạnh, những thành công của nhà văn Nguyên Hồng. Đó là chủ nghĩa nhân đạo, là tư tưởng nhân từ bác ái, cũng như đã chỉ ra những mặt hạn chế của Nguyên Hồng khi buổi đầu đến nghề văn còn đầy non nớt này. Đồng thời cũng qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy: Trong vòng 10 năm (1936 - 1945), Nguyên Hồng đã có khá nhiều sáng tác (54 truyện ngắn, 03 truyện vừa, 01 hồi ký, 03 tiểu thuyết) với mảng nội dung hiện thực đặc sắc nhưng thực sự những sáng tác này của Nguyên Hồng cũng chưa thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình như những trường hợp nhà văn hiện thực khác.
Hầu hết các ý kiến nhận định, phê bình chỉ tập trung vào hai tác phẩm nổi tiếng của Nguyên Hồng là: Bỉ vỏ và Những ngày thơ ấu, còn những sáng tác khác của ông đều chưa hoặc rất ít đề cập đến. Các tác giả (do những lý do chủ quan và khách quan nào đó) cũng chưa thấy hết được giá trị nhiều mặt của các sáng tác ấy, cũng như chưa phát hiện và đánh giá đúng mức được tài năng và cống hiến của Nguyên Hồng, mặc dù bước đầu cũng đã ít nhiều động chạm vào những vấn đề đó khi nhận xét đánh giá về ông. Từ sau năm 1945 cho tới tận hiện nay, Nguyên Hồng và tác phẩm của ông tiếp tục được nhiều người quan tâm, chú ý nhìn nhận, đánh giá và khẳng định những giá trị nổi bật về nội dung và nghệ thuật. Những tác phẩm của nhà văn vẫn tiếp tục trở thành đối tượng nghiên cứu hấp dẫn trong đời sống nghiên cứu, phê bình văn học của nước nhà.
Trong khi đó, một số những nhà văn hiện thực khác như Vũ Trọng Phụng, Nam Cao. vẫn chưa thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình, mà phải đợi đến thời kỳ đổi mới, các tác phẩm của họ mới được chú ý nghiên cứu và được đánh giá sâu sắc, công bằng và toàn diện hơn. Có thể nhắc đến những công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, phê bình tiêu biểu như: Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Vũ Ngọc 9 Phan, Chu Nga, Trần Đăng Suyền,. cùng các mục từ giới thiệu về Nguyên Hồng, tiểu thuyết Bỉ vỏ, Hồi ký Những ngày thơ ấu trong cuốn Từ điển Văn học của tác giả Nguyễn Hoành Khung; Những đề tài nghiên cứu về sáng tác của nhà văn Nguyên Hồng của các tác giả: Lê Hồng My, Bạch Văn Hợp, Phạm Hồng Lan, Nguyễn Duy Tờ, Lê Thị Hải Vân.
Qua các công trình nghiên cứu này, chúng tôi thấy các vấn đề về tư tưởng nghệ thuật, phong cách nghệ thuật, lời văn nghệ thuật, cảm hứng sáng tạo,… trong sáng tác của Nguyên Hồng đã được đề cập đến ở những mức độ khác nhau. Các ý kiến, nhận xét đều sâu sắc và tinh tế nhưng phần lớn là những nhận xét, nhận định có tính chất khái quát, hoặc nghiên cứu sâu một phương diện nào đó thuộc về nội dung hoặc nghệ thuật trong sáng tác của Nguyên Hồng, cụ thể là một số ý kiến tiêu biểu như sau: - Đánh giá sự đóng góp của Nguyên Hồng đối với sự vận động và phát triển khuynh hướng văn học hiện thực phê phán Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 nói riêng và đối với nền Văn học hiện đại Việt Nam nói chung trên những phương diện cụ thể. Tiêu biểu cho xu hướng đánh giá này là các công trình nghiên cứu: “Nguyên Hồng” [Phan Cự Đệ -116], “Nguyên Hồng, con người và sự nghiệp” [Nguyễn Đăng Mạnh -116], “Nguyên Hồng và quá trình sáng tác của anh” [Chu Nga -116]. - Khẳng định chủ nghĩa nhân đạo thống thiết của Nguyên Hồng khi viết về các nhân vật dưới đáy xã hội thực dân phong kiến, đặc biệt là nhân vật người phụ nữ và trẻ em.
Xu hướng này được thể hiện trong các công trình nghiên cứu: “Nguyên Hồng, con người và sự nghiệp” [Nguyễn Đăng Mạnh -116], “Một cuộc đời sáng tạo trong đau khổ” [Vương Trí Nhàn - 111], “Cảm hứng cần lao trong sáng tác của Nguyên Hồng” [Phan Diễm Phương -116]. - Chỉ ra đặc điểm phong cách nghệ thuật của Nguyên Hồng là “nhà văn của niềm tin và ánh sáng”, “nhà văn của lòng thương cảm thống thiết”, “một ngòi bút hiện thực giàu chất lãng mạn”… “Nguyên Hồng, nhà văn của những khát vọng sống” [Hà Minh Đức - 116], “Phong cách nghệ thuật của Nguyên Hồng” [77], “Nhà văn của tình thương” [1]. - Khẳng định mặt mạnh của Nguyên Hồng trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, cũng như trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ, giọng điệu.