BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI THE CHE PHÁP LÝ ASEAN VA VAI TRÒ CUA VIỆT NAM Hà Nội, Ngày 29 tháng 6 năm 2021 BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI THE CHE PHÁP LY ASEAN VA VAI TRÒ CUA VIỆT NAM (Tat cả các bài đăng déu được phản biện độc lập) Ha Nội, Ngày 29 thang 6 nam 2021 MỤC LỤC Trang Tổng quan về thê chế pháp lý ASEAN và xu hướng phát triển TS. Tran Anh Tuấn Vu PLOT, Bộ Tư pháp Quy trình, thủ tục xây dựng, ban hành thé chế pháp lý ASEAN và dé 23 xuất giải pháp đôi mới TS. Vii Thị Anh Thư Khoa Luật, DHOGHN ThS. Đặng Lê Trịnh Vụ PLOT, Bộ Tư pháp Mô hình thiết chế pháp lý của ASEAN dưới góc nhìn đối sánh với 39 EU và bài học kinh nghiệm cho ASEAN ThS.
Bùi Thị Ngọc Lan Trưởng Đại học Luật Hà Nội CN Nguyễn Đức Anh Học viện ngoại giao Luật mềm (soft law) và vai trò đối với xây dựng và hoàn thiện hệ 62 thong thé chế pháp ly của ASEAN. Vi Ngoc Dương ThS. Nguyễn Thuy Dương Trưởng Đại học Luật Hà Nội Thê chế pháp ly của ASEAN trong lĩnh vực thương mại hàng hóa 70 1S. Nguyễn Quỳnh Anh Trưởng Đại học Luật Hà Nội Các quy định pháp lý của ASEAN về hội nhập trong lĩnh vực dịch 83 vụ và đầu tư ThS.
Doan Quynh Thuong ThS. Hoang Thi Quynh Trang Truong Dai hoc Luat Ha Noi Khuôn khổ pháp ly ASEAN về hội nhập trong lĩnh vực chính trị va 107 quốc phòng, an ninh và vai trò của Việt Nam ThS. Nguyễn Hữu Phú CN. Mai Ngân Hà Bộ Ngoại giao Hợp tác ASEAN trong lĩnh vực văn hoá-xã hội 129 TS.
Hà Thị Minh Đức Bộ Lao động thương binh và xã hội Quá trình xây dựng, hoàn thiện thé chế pháp lý ASEAN va vai trò của 140 Việt Nam ThS. Khuất Duy Lê Minh Bộ Ngoại giao 10. Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về việc xây dựng và 154 tham gia các hoạt động của thê chế pháp lý ASEAN 1S. Nguyễn Quỳnh Anh Trưởng Đại học Luật Hà Nội ThS.
Dang Lê Trịnh Vụ PLOT - Bộ Tư pháp 11. Thực trạng quy định pháp lý của ASEAN về hội nhập kinh tế, vai 172 trò của Việt Nam trong xây dựng, hoàn thiện và đề xuất giải pháp 1S. Trần Anh Tuấn ThS. Nguyễn Thị Thu Phương Vu PLOT — Bộ Tư pháp 12.
Cơ chế về quyền con người của ASEAN và phương hướng hoàn thiện 185 ThS. Pham Thuy Linh Vu PLOT — Bộ Tư pháp 13. Tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam với các quốc gia khác 206 trong ASEAN, thực trạng và giải pháp ThS. Duong Thị Bích Dao Vu PLOT - Bộ Tu pháp 14.
Vai trò của hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực đối với hội 216 nhập ASEAN ThS. Nguyễn Anh Thơ ThS. Đỗ Thu Hương Truong Đại học Luật Ha Nội TONG QUAN VE THE CHE PHAP LY ASEAN VA XU HUONG PHAT TRIEN TS. Trần Anh Tuần! Tóm tắt: ASEAN hội nhập trên cơ sở một Cộng đồng ASEAN, dựa trên ba trụ cột là Cộng dong chính trị - an ninh, Cộng đồng kinh tế và Cộng đông văn hóa - xã hội.
Bài viết này góp phần làm rõ về các thành tô cấu thành thé chế pháp lý ASEAN và quá trình phát triển, vai trò của chúng doi với hội nhập ASEAN. Trên cơ sở thực trạng của thé chế pháp lý ASEAN, Bài viết cũng dua ra một số giải pháp dé tiếp tục hoàn thiện nó cũng như vai trò của các quốc gia thành viên ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng về vấn đề này. Từ khóa: ASEAN, thiết chế pháp lý, quy định pháp lý và thể chế pháp lý ASEAN. Khái niệm về thể chế và thể chế pháp lý 1.
Khái niệm thể chế Thể chế (Institution), theo nghĩa phố biến nhất của tiếng Anh tương đương với từ “Organization”, có nghĩa là một tô chức với quy mô lớn và quan trọng được thành lập dé thực hiện một mục đích nhất định? hoặc cũng được hiểu là một hệ thống quy tắc thuộc về phong tục, tập quán 3. Như vậy, “thê chế” có hai nghĩa vừa có nghĩa là những thiết chế mang tính tô chức chặt chẽ có quy mô lớn, vừa có nghĩa là những quy phạm điều chỉnh các quan hệ xã hội. Trong tiếng Việt, thé chế thường được hiểu theo nghĩa phổ biến là tập hợp các quy tắc do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội (quy phạm pháp luật). Tuy nhiên, cũng có quan điểm khác cho rang, thê chế được hiéu theo hai cách.
Cách thứ nhất, thê chế là quy định pháp luật của nhà nước hoặc theo cách thứ hai thì nó có nghĩa là một cơ quan, tô chức công với các cơ cấu và chức năng được định san’. Đặc biệt, trong chính trị học thé chế được “khoác áo” chính trị với tên gọi “thể chế chính trị” và được coi là những quy định, quy chế, chuẩn mực, quy phạm, nguyên tắc, luật lệ. nhằm điều chỉnh và xác lập các quan hệ chính trị; mặt khác, nó cũng là những “dạng thức” nói lên cau trúc tổ chức, các bộ phận chức năng cau thành của một chủ thể chính tri hay hệ thống chính trị. ! Vụ Pháp luật quốc tế - Bộ Tư pháp ? Cambridge Dictionary, truy cập ngày 11/4/2021 trên: https://dictionary.org/vi/dictionary/ english/institution.
3 Longman Dictionary of Contemporary English (Từ điển Longmen về tiếng Anh đương dai) của Longman Group Ltd., do Cayfosa (Barcelona) xuất bản năm 1999 tại Tây Ban Nha, tr. 4 Lê Hồng Hiệp, Thể chế (Institution), Nguyên cứu quốc tế, truy cập ngày 04/5/2021 trên: http://nghiencuuquocte.org/2016/06/04/the-che-institution/. | Như vậy, ở cả quốc tế và Việt Nam, đến thời điểm này vẫn chưa có một quan niệm thống nhất về thể chế mà nó được hiểu theo cách nghĩa rộng, hẹp khác nhau tùy vào lĩnh vực của đời sông xã hội hoặc mục đích sử dụng thuật ngữ này trong những bối cảnh cụ thể. Khái niệm thể chế pháp lý Hiện nay, không có sự phân biệt nào rạch roi giữa thé chế và thé chế pháp lý trong pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế cũng như các công trình nghiên cứu liên quan.
Trên thực tế, cụm từ “thê chế” và “thể chế pháp lý” thường được dùng với nghĩa như nhau. Quan niệm về thể chế pháp lý ở Việt Nam Ở nước ta, thật ngữ “thé chế” được sử dụng với nghĩa là thê chế pháp lý trong nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước cũng như các công trình nghiên cứu của các học giả pháp lý và được hiểu là tông thé những quy định trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật. Đối với các văn ban của Đảng, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2010, định hướng đến 2020, tại Mục 3 Phan II khi đề cập hoàn thiện thé chế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì được diễn tả là xây dựng, hoàn thiện lĩnh vực pháp luật về kinh tế, thương mại hoặc Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về hoàn thiện thê chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng đề cập thể chế với tư cách là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật. Đặc biệt, trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng khi dé cập đến xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thé chế phát triển cũng với ý nghĩa là hoàn thiện hệ thông văn bản quy phạm pháp luật tạo hành lang pháp lý cho phát triển (Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030).
Trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, thê chế pháp lý được sử dụng nhưng không được định nghĩa về nó. Điều 51 Hiến pháp năm 2013 đề cập tới “hoàn thiện thể chế kinh tế” với ý nghĩa là hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực kinh tế. Trong các văn bản pháp luật khác của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng nhắc tới thé chế với nghĩa là văn bản pháp luật, ví dụ: Nghị quyết số 27/NQ-CP ngày 21/02/2017 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01/11/2016 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số chủ trương, chính sách lớn nhăm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, 2 sức cạnh tranh của nên kinh tế và Nghị quyết số 24/2016/QH14 ngày 08/11/2016 của Quốc hội về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016 — 2020 hay Nghị quyết số 58/NQ-CP ngày 27/4/2020 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 28/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thé ché, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư đến năm 2030. Đa số các học giả luật học và những người làm thực tiễn pháp luật ở trong nước đánh đồng “thể chế pháp lý” với “thể chế” và quan niệm về nó theo nghĩa như đã nêu trên.
Mặc dù vậy, thời gian gần đây một số học giả luật học, chính trị học và kinh tế học lại có xu hướng quan niệm “thé chế pháp lý” với nghĩa rộng hơn. Theo đó, họ cho răng, “thể chế pháp lý” là một hệ thống thống nhất gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, bộ máy nhà nước và phương thức điều hành đất nước. Tuy nhiên, phương thức điều hành đất nước cũng được văn bản quy phạm pháp luật quy định. Do đó, về bản chất, hệ thống thé chế pháp ly gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống thiết chế pháp ly’.
Quan niệm về thể chế ở nước ngoài Ở nước ngoài, quan niệm về thê chế và thể chế pháp lý cũng không giống nhau đối với những học giả khác nhau. Trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học pháp lý, thể chế pháp lý cũng được hiểu theo nghĩa hẹp với nghĩa là các quy định pháp lý như nêu trên, chang hạn: Theo Dick W. Ruiter — Giáo sư danh dự về Luật Hiến pháp và hành chính của Đại học Twente thuộc Trường Kinh doanh, Hành chính công và Công nghệ cua Hà Lan quan niệm: Các thê chế pháp lý có thể được mô tả khái quát là các hệ thông pháp lý riêng biệt trong hệ thống pháp luật điều chỉnh các hình thức ứng xử xã hội cụ thé®. Tuy vậy, một số học giả kinh tế nước ngoài (Douglass C.