Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Hậu môn nhân tạo là phương pháp mà người ta đưa tràng ra thành bụng để tháo phân khi không sử dụng được hậu môn thật. Việc làm hậu môn nhân tạo được áp dụng từ năm 1710 trên người bệnh không có hậu môn. Từ đó,việc làm hậu môn nhân tạo được chỉ định rộng rãi hơn và nhiều người quan niệm rằng hậu môn nhân tạo được chỉ định làm nhiều trong ung thư đại trực tràng. Hậu môn nhân tạo là phẫu thuật đơn giản nhưng có giá trị rất lớn.
Nó giúp người bệnh thoát khỏi nguy hiểm trong tắc ruột cấp cứu hoặc giúp cho người bệnh có được cuộc sống dễ chịu hơn với ung thư đại trực tràng không thể phẫu thuật được. Vị trí đại tràng đưa ra ngoài làm hậu môn nhân tạo có thể là bất cứ đoạn nào của đại tràng như đại tràng lên, đại tràng ngang, đại tràng xuống, đại tràng sigma. Chỉ định làm HMNT nhiều nhất là do ung thư đại - trực tràng 1. Đại cương về hậu môn nhân tạo: 1.
Sơ lược về giải phẫu đại trực tràng 1. Giải phẫu đại tràng. Hình thể ngoài Đại tràng là phần tiếp theo của ống tiêu hoá đi từ cuối hồi tràng (van Bauhin) đến chỗ nối đại tràng Sigma và trực tràng. Đại tràng như một khung hình chữ U lộn ngược quây lấy tiểu tràng nên thường gọi là khung đại tràng.
Đại tràng được chia làm hai phần là đại tràng phải và đại tràng trái. Đại tràng phải bao gồm: manh tràng, đại tràng lên, đại tràng góc gan và phần phải đại tràng ngang. Phần còn lại là đại tràng góc lách, đại tràng xuống, đại tràng sigma và phần nối đại tràng sigma với trực tràng. Đại tràng gồm có đoạn cố định và đoạn di động.
Đại tràng lên và đại tràng xuống được cố định vào thành bụng sau. Đại tràng ngang và đại tràng Sigma là phần đại trang di động. Kích thước trung bình dài khoảng 1.2m đến 2m thay đổi tuỳ theo từng người [9], [10], [6]. Cấu tạo thành đại tràng.
- Thành đại tràng có bốn lớp gồm: Lớp thanh mạc: chính là phúc mạc tạng bao bọc kết tràng. Riêng trực tràng không có thanh mạc bao bọc mà chỉ có một lớp liên kết xơ, dày. Lớp cơ bao gồm hai lớp: lớp ngoài là lớp cơ dọc, nhưng không dải đều khắp bề mặt kết tràng mà tập trung thành ba dải cơ dọc, và lớp trong là lớp cơ vòng. Lớp dưới niêm mạc: là mô liên kết thưa chứa đựng các thành phần mạch máu, mạch bạch huyết, và sợi thần kinh.
Lớp niêm mạc: được phủ bởi một biểu mô trụ đơn, với nhiều tuyến Lieberkuhn, bên dưới là mô kiên kết, trong đó chứa nhiều mô lympho.1: Niêm mạc và cơ đại tràng [16] 1. Giải phẫu trực tràng: 1. Phân chia giải phẫu. - Trực tràng là phần cuối của đại tràng, tiếp theo đại tràng Sigma đi từ đốt sống cùng thứ 3 tới hậu môn.
Trực tràng có 2 phần: - Phần trên hình bóng: Bóng trực tràng nằm trong chậu hông bé còn gọi là phần chậu của trực tràng (trực tràng hậu môn) nằm trong phúc mạc. - Phần dưới hẹp gọi là ống hậu môn chọc qua đáy chậu tới lỗ hậu môn không có phúc mạc che phủ [10], [16]. Hình thể ngoài: Trên thiết đồ đứng dọc cong lượn 2 phần: Phần trên lõm ra trước dựa vào phần cong xương cùng cụt. Phần dưới lõm ra sau, điểm cong gặp ngang chỗ bám cơ nâng hậu môn.
Hình thể trong: - Ống hậu môn cao 2 - 3cm nhẵn màu đỏ tím có nhiều tĩnh mạch. - Bóng trực tràng: Cột Morgani là lớp niêm mạc lồi lên cao 1 cm rộng ở dưới, nhọn ở trên, thường có 6 - 8 cột. Sinh lý đại trực tràng 1. Sinh lý đại tràng Chức năng chính của đại trại tràng là hấp thụ, bài tiết, vận động và tiêu hoá.
Mỗi đoạn đại tràng có chức năng khác nhau. Đại tràng tiếp tục các công việc của hồi tràng biến những thứ còn lại trong lòng hồi tràng thành phân nửa đặc, nửa lỏng rồi tích chứa nó trong lòng đại tràng cho đến khi thích hợp để tống phân ra ngoài [13], [6]. * Hấp thu của đại tràng: Chức năng chủ yếu của đại tràng là hấp thu nước, Na+ và một số chất khoáng. Khả năng hấp thụ của niêm mạc đại tràng rất lớn.
Chức năng này có tác dụng làm khô đi khối phân khi sang đến đại tràng trái [13], [6]. * Sự bài tiết của đại tràng. Chức năng tiết dịch của đại tràng không quan trọng, đó là chất nhầy có tác dụng bảo vệ niêm mạc đại tràng, khi các chất bã tiếp xúc với niêm mạc đại tràng thì các tế bào tuyến đại tràng sẽ tiết chất nhầy. Sinh lý trực tràng: - Cơ chế tích và tháo phân: Bóng trực tràng là đoạn ruột phình ra để chứa phân.
Người khỏe mạnh đại tiện 1 - 2 lần/ngày. Cơ thể tích và tháo phân được kiểm soát bởi hai yếu tố phản xạ và kiềm chế tự chủ [13]. + Cơ chế phản xạ: Do đại tràng Sigma thay đổi, việc co cơ theo chiều dọc đã góp phần vào việc giữ phân ở đây. Khi phân làm căng bóng trực tràng các thần kinh chỉ huy việc tháo phân ở đốt cùng 2 - 3 và các trung tâm thần kinh trung ương khác.
7 + Cơ chế kiểm soát tự chủ: Được điều khiển bởi thần kinh cùng 2 - 3 - 4 và các trung tâm thần kinh trung ương khác Hình 1. Giải phẫu đại trực tràng. Nguồn: ATLAS giải phẫu người [16] 1. Định nghĩa hậu môn nhân tạo Hậu môn nhân tạo là nơi để phân đi ra ngoài trên đại tràng thay thế hậu môn thật, trong đó một phần của đại tràng được đưa ra ngoài thành bụng [6] 1.
Kỹ thuật làm hậu môn nhân tạo 1. Chỉ định làm hậu môn nhân tạo. Trong cấp cứu: - Thủng đại - trực tràng bệnh lý, vết thương hoặc chấn thương nặng tầng sinh môn, ống hậu môn. - Tắc ruột thấp do dãn ĐT bẩm sinh, dị tật hậu môn trực tràng không có lỗ rò.
- U đại - trực tràng có biểu hiện tắc ruột. - Vết thương đại tràng: Hiện nay người ta chỉ làm hậu môn nhân tạo trong vết thương đại tràng khi có quá 2 tạng bị tổn thương trong ổ bụng, tình trạng sốc, chảy máu trong, viêm phúc mạc hoặc bệnh nhân đến muộn. - Vết thương trực tràng: Vết thương trực tràng có nguy cơ nhiễm trùng rất cao, nhất là những trường hợp bị bỏ sót hoặc đến muộn - Viêm phúc mạc: Tuỳ theo vị trí cũng như loại thương tổn mà có thể cắt đoạn đại tràng hoặc cắt một phần đại tràng đưa hai đầu ra làm HMNT[6], [7], [10]. Trong mổ phiên: Chỉ định làm hậu môn nhân tạo trong các bệnh lý sau: - Dãn đại tràng bẩm sinh không có biểu hiện tắc ruột.
- Dị tật hậu môn trực tràng có lỗ rò lớn không có biểu hiện tắc ruột. - Các loại u đại tràng, trực tràng không có khả năng cắt bỏ. - Ngoài ra hậu môn nhân tạo còn được chỉ định trong các trường hợp để bảo vệ miệng nối ruột ở các vị trí sâu và hẹp thường là chỉ làm tạm thời [2]. Nguyên tắc Nguyên tắc căn bản của hậu môn nhân tạo là tạo ra sự dính giữa thành đại tràng và da thành bụng.
- Cả hai phía của HMNT (đại tràng và da) phải được tưới máu tốt. - Đoạn đại tràng được đưa ra làm HMNT không căng, không xoắn. - Thành bụng phải được khâu kín với thành đại tràng để cho dịch phân không trào ngược vào khoang bụng [6]. Đặc điểm của hậu môn nhân tạo bình thường - Hậu môn nhân tạo khỏe mạnh có màu đỏ chỉ ra rằng nó được cung cấp máu tốt.
Bề mặt niêm mạc thường là ẩm và mềm tương tự như là mô ở trong miệng. - Bởi vì đường tiêu hóa và đường niệu không có dây thần kinh cảm giác do đó hậu môn nhân tạo không có cảm giác [6], [8]. Vị trí làm hậu môn nhân tạo Vị trí giữ vai trò quan trọng trong việc chăm sóc hậu môn nhân tạo sau mổ, nên được xác định trước mổ. Vị trí tốt nhất được xác định dựa vào tất cả tư thế đứng, nằm, ngồi xổm nhằm kiểm tra sự thuận lợi cho việc đặt túi phân.
Miệng hậu môn nhân tạo phải nằm xa các gờ xương, các nếp nhăn da, các vết sẹo. Theo kinh điển vị trí của một miệng hậu môn nhân tạo là nằm trên giao điểm của đường nối gai chậu trước trên với rốn và bờ ngoài cơ thẳng to. Một hậu môn nhân tạo lý tưởng phải nằm gần đường giữa hơn và hơi lên cao hơn. Vị trí làm hậu môn nhân tạo.
Nguồn: Giáo trình PTTH [10] 1. Tên gọi và phân loại hậu môn nhân tạo Tuỳ theo vị trí của đoạn đại tràng được đưa ra làm hậu môn nhân tạo mà có những tên gọi khác nhau như: HMNT đại tràng Sigma hậu môn nhân tạo đại tràng xuống, hậu môn nhân tạo đại tràng ngang. - Tuỳ theo thời gian sử dụng mà hậu môn nhân tạo được gọi là vĩnh viễn hay tạm thời [3], [5], [6]. + Vĩnh viễn là hậu môn nhân tạo mà bệnh nhân mang cho đến chết.
Hậu môn nhân tạo này được chỉ định trong ung thư đại trực tràng giai đoạn cuối trong phẫu thuật Miles [6]. + Tạm thời là những hậu môn nhân tạo chỉ tồn tại trong thời gian nhất định và được đóng lại sau một thời gian sử dụng, loại này được chỉ định trong nhiều loại bệnh lý như: Vết thương đại tràng, trực tràng, cắt bỏ đoạn đại tràng phía dưới, giải quyết tình trạng tắc do khối u gây nên, chuẩn bị cho một phẫu thuật đại tràng phía dưới [6], [31], Miles [38]. Tuỳ thuộc vào kỹ thuật đưa đoạn đại tràng ra làm hậu môn nhân tạo mà có các kiểu hậu môn nhân tạo như: - HMNT kiểu bên: Loại có cựa và loại không có cựa. - HMNT kiểu tận: Loại một đầu tận và loại hai đầu tận.
Đại tràng sau khi làm hậu môn nhân tạo kiểu 2 đầu. Nguồn:PTTH(HVQY) [6] Hình 1. Hậu môn nhân tạo một đầu tận trong phẫu thuật Hartmann Nguồn: PTTH(HVQY) [6] 1. Biến chứng của hậu môn nhân tạo Theo nghiên cứu của Mirelman tỷ lệ biến chứng chung của hậu môn nhân tạo kiểu bên là 14,8%, kiểu một đầu tận là 13,2%, và kiểu hai đầu tận là 7,3%.
J[2], [34] cho thấy có 9% biến chứng trên những hậu môn nhân tạo một đầu tận và 15% hậu môn nhân tạo kiểu bên. Ở bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố Hồ Chí Minh (1986 - 1990) có 261 trường hợp làm hậu môn nhân tạo trong đó có 39 trường hợp có biến chứng sớm với tỷ lệ 14,9% và có 9 trường hợp biến chứng muộn chiếm tỷ lệ 3,6% [18] .