Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài đƣợc bố cục làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THANH TOÁN BẰNG THƢ TÍN DỤNG. Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN VỀ THANH TOÁN BẰNG THƢ TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY. Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THANH TOÁN BẰNG THƢ TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM. 13 Đỗ Văn Sử: CHL-K6 Luận văn tốt nghiệp Chƣơng 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THANH TOÁN BẰNG THƢ TÍN DỤNG.
Khái niệm thanh toán và dịch vụ thanh toán. Khi nền kinh tế của Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới thì các lợi ích thƣơng mại của các doanh nghiệp trong nƣớc và các quan hệ đầu tƣ với các tập đoàn nƣớc ngoài ngày càng tăng với mức độ nhanh chóng hơn. Trong bối cảnh này, việc nghiên cứu xây dựng khuôn khổ pháp luật về thƣơng mại và thanh toán hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế cũng trở thành một nhu cầu quan trọng song song với việc trang bị và cung cấp cho các doanh nhân trong nƣớc các thông tin hỗ trợ cho công việc kinh doanh của họ cả tại nội địa và trên các thị trƣờng quốc tế. Một trong những lĩnh vực phức tạp nhất của các quan hệ thƣơng mại quốc tế là hoạt động thanh toán đƣợc thực hiện thông qua phƣơng thức thanh toán bằng thƣ tín dụng.
Trƣớc khi có sự tìm hiểu và phân tích về phƣơng thức thanh toán này, đề tài tập trung vào xem xét khái quát về vấn đề thanh toán và các phƣơng thức thanh toán qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đƣợc thực hiện trong các giao dịch của đời sống kinh tế - xã hội nói chung và trong các hoạt động thƣơng mại quốc tế nói riêng. Theo nghĩa chung nhất, thanh toán là việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền phát sinh từ các quan hệ dân sự, thƣơng mại, tài chính, tín dụng,. đƣợc phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ đó. Thanh toán là một hành vi có tính nghĩa vụ của ngƣời thụ trái đối với trái chủ trong các quan hệ trong đời sống xã hội (mà phổ biến nhất là các quan hệ mang tính hợp đồng giữa các bên).
Việc thực hiện nghĩa vụ này đƣợc tiến hành thông qua nhiều cách thức khác nhau nhƣ: thanh toán trực tiếp và thanh toán gián tiếp, thanh toán ngay và thanh toán trả chậm, thanh toán bằng tiền mặt hoặc các loại giấy tờ có giá,. và làm phát sinh vô số hình thái khác nhau trong các quan hệ thực tiễn của đời sống xã hội. Khi các quan hệ thƣơng mại đƣợc phát triển ở quy mô và phạm vi rộng (đặc biệt là trong các quan hệ hợp đồng quốc tế) thì việc thanh toán của các bên trở nên khó khăn hơn do cách biệt về địa lý, về ngôn ngữ, về thời gian,. Điều này đã làm phát sinh nhu cầu cần có các trung gian để thực hiện dịch vụ thanh toán giữa các bên.
Để thực hiện chức năng này, các tổ chức thực hiện dịch vụ thanh toán phải đáp ứng đƣợc các điều kiện nhất định và phải đƣợc tất cả các bên tín nhiệm. 14 Đỗ Văn Sử: CHL-K6 Luận văn tốt nghiệp Tuỳ thuộc vào điều kiện của từng quốc gia cụ thể mà tại mỗi nƣớc có các quy định khác nhau về các loại và các điều kiện để trở thành các tổ chức thực hiện dịch vụ thanh toán. Theo quy định hiện hành của Việt Nam(2), hiện chỉ có ba loại tổ chức đƣợc đứng ra thực hiện chức năng trung gian thanh toán là Ngân hàng nhà nƣớc, Ngân hàng và các Tổ chức khác đƣợc làm dịch vụ thanh toán. Trong các loại chủ thể trên thì chỉ có các tổ chức tín dụng (trong có vai trò đặc biệt của các ngân hàng thƣơng mại(3)) là chủ thể chủ yếu thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị định số 64/2001/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2001 của Chính phủ về hoạt động thanh toán qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thì khái niệm dịch vụ thanh toán đƣợc hiểu “là việc cung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện giao dịch thanh toán trong nước và quốc tế, thực hiện thu hộ, chi hộ và các loại dịch vụ khác do Ngân hàng Nhà nước quy định của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán”. Thanh toán qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Cơ sở pháp lý chủ yếu cho hoạt động thanh toán qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán ở Việt Nam hiện nay là ba văn bản quy phạm pháp luật: Nghị định số 64/2001/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2001 của Chính phủ về hoạt động thanh toán qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán; Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26 tháng 3 năm 2002 của Thống đốc Ngân hàng nhà nƣớc về việc ban hành Quy chế hoạt động thanh toán qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán; Quyết định 1092/2002/QĐ-NHNN ngày 08 tháng 10 năm 2002 của Thống đốc Ngân hàng nhà nƣớc về việc ban hành quy định thủ tục thanh toán qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Theo Điều 9 Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN, các phƣơng tiện thanh toán không phải tiền mặt (đƣợc quy định từ khoản 2 đến khoản 5) bao gồm: Séc, Uỷ nhiệm chi (hoặc lệnh chi), Uỷ nhiệm thu (hoặc nhờ thu), Thẻ ngân hàng, và các phƣơng tiện thanh toán khác (nhƣ hối phiếu, lệnh phiếu,.
Các phƣơng tiện thanh toán không phải tiền mặt đƣợc dùng để thực hiện các 2 : Nghị định số 64/2001/ NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2001 của Chính phủ về hoạt động thanh toán qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán; Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26 tháng 3 năm 2002 của Thống đốc Ngân hàng nhà nƣớc về việc ban hành Quy chế hoạt động thanh toán qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán; Quyết định 1092/2002/ QĐ-NHNN ngày 08 tháng 10 năm 2002 của Thống đốc Ngân hàng nhà nƣớc về việc ban hành quy định thủ tục thanh toán qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. 3 : Khái niệm ngân hàng thƣơng mại đƣợc hiểu bao gồm: Ngân hàng thƣơng mại quốc doanh, ngân hàng thƣơng mại cổ phẩn, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài ở Việt Nam. 15 Đỗ Văn Sử: CHL-K6 Luận văn tốt nghiệp khoản chi trả tài chính nhƣ: Thuế, phí, lệ phí,. hay chi trả tiền mua bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ giữa các chủ thể tham gia các quan hệ đó.
Các chủ thể tham gia quan hệ thanh toán này ngoài các bên thanh toán (ngƣời trả tiền và ngƣời nhận tiền) còn có sự hiện diện của các trung gian thanh toán (Ngân hàng nhà nƣớc, Kho bạc nhà nƣớc, các tổ chức tín dụng). Trong hầu hết các quan hệ thanh toán này, chủ yếu đƣợc khởi xƣớng và đƣợc xuất hiện bởi ngƣời trả tiền. Đây chính là chủ thể quyết định của quá trình thanh toán. Ngƣời nhận tiền có vai trò thụ động hơn, nhƣng quá trình thanh toán chỉ đƣợc tiếp nhận và thực hiện bởi ngƣời nhận tiền.
Chính vì vậy, chủ thể này là ngƣời quyết định tiếp theo của quá trình thanh toán. Trong các hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán, vai trò của các chứng từ thanh toán là hết sức quan trọng. Chúng đƣợc coi là các công cụ thanh toán, là phƣơng tiện chuyển tải các điều kiện thanh toán do bản chất của quan hệ thanh toán này là không có sự hiện diện của tiền mặt. Các chứng từ chủ yếu là lệnh thu và lệnh chi với nhiều hình thái, tên gọi khác nhau tuỳ theo từng loại hình dịch vụ.
Tuy nhiên, chúng đều hội tụ đầy đủ tất cả các yếu tố sau: - Họ tên ngƣời trả tiền, ngƣời nhận tiền (trừ séc vô danh). - Lý do thanh toán - Số tiền thanh toán - Chữ ký của chủ tài khoản, kế toán trƣởng hoặc những ngƣời đƣợc uỷ quyền theo quy định của pháp luật Ngoài ra, có một số công cụ phụ trợ cho lệnh thu, lệnh chi nhƣ là: Bảng kê, Giấy báo biên hàng, Hoá đơn, Vận đơn, Hợp đồng kinh tế,. để đối chiếu, so sánh với lệnh thu, lệnh chi khi thực hiện nghiệp vụ thanh toán. Các công cụ phụ trợ này không phải là công cụ thanh toán.
Quá trình thực hiện thanh toán qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đƣợc thực hiện qua các tài khoản ngân hàng của các bên đƣợc lập ra phục vụ cho mục đích hoạt động của mình. Có ba loại tài khoản chính là: - Tài khoản trả tiền: là tài khoản ghi chép số tiền đã trả - Tài khoản nhận tiền: là tài khoản ghi chép số tiền đã nhận - Tài khoản trung gian: là tài khoản do các tổ chức trung gian thanh toán lập ra để ghi chép số tiền trƣớc khi chuyển cho ngƣời thụ hƣởng. Khi thực hiện nghiệp vụ này, bên trung gian sẽ đƣợc hƣởng khoản phí phục vụ. Các phƣơng thức thanh toán quốc tế qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán hiện nay đƣợc quy định tại Mục 4 (Các Điều 18, 19) Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26 tháng 3 năm 2002 của Thống đốc Ngân 16 Đỗ Văn Sử: CHL-K6 Luận văn tốt nghiệp hàng nhà nƣớc về việc ban hành Quy chế hoạt động thanh toán qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
Theo đó, các phƣơng thức thức thanh toán quốc tế bao gồm: - Thanh toán bằng thƣ tín dụng (Khoản 1 Điều 19 Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN). - Thanh toán bằng séc thanh toán quốc tế (Khoản 2 Điều 19 Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN). - Thanh toán bằng lệnh chi hoặc uỷ nhiệm chi quốc tế (Khoản 2 Điều 19 Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN). - Thanh toán bằng nhờ thu hoặc uỷ nhiệm thu quốc tế (Khoản 2 Điều 19 Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN).
- Thanh toán bằng thẻ quốc tế (Khoản 2 Điều 19 Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN). - Thanh toán bằng các thể thức thanh toán khác (Khoản 2 Điều 19 Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN). Trong các phƣơng thức trên, đƣợc áp dụng phổ biến nhất trong việc thanh toán cho các giao dịch thƣơng mại quốc tế là hình thức thanh toán bằng thƣ tín dụng (phƣơng thức tín dụng chứng từ). Thanh toán bằng Thƣ tín dụng.
Trong các mối quan hệ kinh tế - thƣơng mại, động cơ tham gia vào quan hệ của các bên không giống nhau; các nhà xuất khẩu cũng nhƣ các nhà nhập khẩu có thể quan tâm đến hoạt động kinh tế với nhiều lý do khác nhau. Đó có thể là mua nguyên vật liệu, hàng hoá hay dịch vụ ở nƣớc ngoài mà họ không thể mua hoặc là mua nhƣng không có lợi ở trong nƣớc.