Chương 1: Lý luận chung về phương thức tín dụng chứng từ và rủi ro liên quan Chương 2: Những rủi ro thường phát sinh trong thanh toán tín dụng chứng từ trong giao dịch xuất nhập khẩu thép Chương 3: Các giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ đối với các ngân hàng và doanh nghiệp kinh doanh thép Việt Nam CHUONG 1: LÝ LUẬN CHUNG VE PHƯƠNG THỨC TÍN DUNG CHỨNG TỪ VÀ RỦI RO LIÊN QUAN 1.1 Phương thức tín dụng chứng từ 1.1 Khái niệm chung về phương thức tín dụng chứng từ Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định dé ra trong thư tin dụng [44, tr.323] Từ khái niệm trên cho thấy, phương thức tín dụng chứng từ có thê được áp dụng cả trong nội thương và ngoại thương. Trong ngoại thương, theo yêu cầu của nhà nhập khẩu, ngân hàng phát hành một thư tín dụng cho nhà xuất khâu hưởng. Nội dung chủ yếu của thư tin dụng là sự cam kết của ngân hàng phát hành L/C sẽ trả tiền cho nhà xuất khâu khi nhà xuất khẩu tuân thủ những điều kiện quy định trong L/C và chuyền bộ chứng từ cho ngân hang dé thanh toán. Đây là phương thức thanh toán quốc tế được áp dụng trong thanh toán quốc tế nhiều nhất.
Nó cho phép người mua hàng và người bán hàng kiêm soát những rủi ro trong giao hang và thanh toán khi buôn bán ngoại thương. Tại điều 2 UCP 600, tín dụng chứng từ được định nghĩa như sau: “Tin dụng chứng từ là một thỏa thuận bất kỳ, cho dù được gọi tên hoặc mô tả như thé nào, thé hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của ngân hang phát hành về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp” 10 1.2 Các bên tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ -Người xin mở thư tín dụng (Applicant) là người mua, người nhập khẩu hàng hoá, hoặc là người nhập khẩu uỷ thác cho một người khác. - Ngân hàng mở thư tín dụng (Issuing bank) là ngân hàng đại diện cho người nhập khẩu cấp tín dụng cho người nhập khẩu. - Người hưởng lợi thư tín dụng (Beneficiary) là người bán, người xuất khẩu hay bat cứ người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định.
- Ngân hàng thông báo thư tín dụng (Advising bank) là ngân hàng thực hiện thông báo L/C cho người thụ hưởng theo yêu cầu của ngân hàng phát hành. Ngân hàng thông báo thường là ngân hàng đại lý hay một chi nhánh của ngân hàng phát hành ở nước nhà xuất khâu. -Ngân hàng xác nhận (Confirming bank) là ngân hàng bổ sung sự xác nhận của mình vào L/C theo yêu cầu hoặc theo sự ủy quyền của ngân hàng phát hành [43, tr.483] -Ngân hàng được chỉ định (Nominated bank) là ngân hàng mà tại đó L/C có giá trị thanh toán hoặc chiết khấu. Đối với L/C giá trị tự do, thì bất kỳ ngân hàng nào cũng có thể là ngân hàng được chỉ định.
Trách nhiệm kiểm tra chứng từ của ngân hàng được chỉ định là giống như ngân hàng phát hành khi nhận được bộ chứng từ. Ngoài ra, trong thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ còn có ngân hàng chiết khấu (Negotiating bank), ngân hàng chuyển nhượng (Transfering bank), ngân hàng được chỉ định (Nominated bank), ngân hàng hoàn tra (reimbursing bank), ngân hang chuyển chứng từ (Presenting bank). Tùy theo loại L/C được sử dụng mà có nhiều bên ngân hàng tham gia với vai trò khác nhau hoặc có thê một ngân hàng có nhiêu vai trò khác nhau.3 Một số loại thư tín dụng trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ 1.1 Thư tin dụng có thé hủy ngang (Revocable L/C): Thư tin dụng có thể hủy ngang là một L/C mà người mở (nhà nhập khâu) có quyền đề nghị NHPH sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ bat cứ lúc nào mà không cần chấp thuận và báo trước cho người hưởng lợi L/C (nhà xuất khẩu). Như vậy, nếu không có sự nhất trí của người xuất khẩu, của ngân hàng xác nhận (nếu có) thì ngân hàng mở không được phép thực hiện theo yêu cầu của bên nhập khẩu thay đôi L/C.
Do đó quyền lợi của người bán được đảm bảo hơn.2 Thư tín dụng không thể huỷ ngang (/rrevocable L/C): Thư tín dụng không thé hủy ngang là loại L/C sau khi mở ra thì ngân hàng mở L/C không được sửa đổi, bố sung hoặc hủy bỏ toàn phan hay từng phan nội dung trong thời hạn hiệu lực của nó nếu không có sự đồng ý của người thụ hưởng và ngân hàng xác nhận. Loại L/C này đảm bảo quyền lợi cho bên xuất khẩu vì vậy L/C này được áp dụng rất phố biến trong thanh toán quốc tế [44, tr.3 Thư tín dụng xác nhận (Confirmed L/C): Thư tín dụng xác nhận là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ được một ngân hàng xác nhận đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng mở L/C. Nguyên nhân phát sinh loại L/C này là vì người hưởng lợi không tin tưởng vào khả năng thanh toán của ngân hàng mở L/C. Trách nhiệm trả tiền L/C của ngân hàng xác nhận giống như NHPH, vì vậy NHPH trả phí xác nhận và ký quỹ tại ngân hàng xác nhận.
Do có hai ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền, do đó L/C loại này có tính đảm bảo nhất cho nhà xuất khẩu.4 Thư tín dung không thé hủy ngang, miễn truy đòi (Irrevocable without recourse letter of credit): Loại thư tin dụng này là loại L/C mà sau khi người xuất khẩu đã được trả tiền thì ngân hàng không còn quyền đòi lại tiền dù trong bat ký trường hợp nao. Khi dùng loại L/C này người xuất khâu phải ghi lên hối phiếu miễn truy đòi người ký phát và trong L/C cũng phải ghi như vậy 1.5 Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving letter of credit): Thư tín dụng tuần hoàn là loại L/C không thể huỷ ngang sau khi sử dụng xong hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì nó lại tự động có giá trị như cũ và cứ như vậy cho đến khi tổng giá trị hợp đồng được thực hiện. L/C tuần hoàn được sử dụng phổ biến trong buôn bán với các đối tác quen thuộc trên thị trường và các bên tin cậy lẫn nhau. Có hai loại thư tín dụng tuần hoàn: -L/C tuần hoàn tích lũy: được hiểu là trong một thời gian quy định nếu nhà xuất khâu không giao hàng thi trong thời gian tiếp theo nhà xuất khẩu có thé giao hàng với trị giá bằng với trị giá của kỳ trước chưa thực hiện được cộng với giá phải giao trong kỳ này -L/C tuần hoàn không tích lũy: nhà xuất khâu không được phép xuất hàng với giá trị vượt quá giá trị của thư tín dụng nếu kỳ trước không giao hàng.6 Thu tín dụng giáp lưng (Back-to-Back L/C): Loại L/C thường được nhà xuất khẩu áp dung dé thanh toán tiền hàng cho nha cung cấp hàng cho mình để xuất khâu được gọi là thư tín dụng giáp lưng.
Trong trường hợp này, người xuất khâu dùng L/C do nhà nhập khẩu mở dé thé chap mở một L/C cho người hưởng lợi khác với nội dung gần giống nội dung như L/C ban đầu, L/C mở lần sau gọi là L/C giáp lưng. 13 Về cơ bản L/C gốc và L/C giáp lưng giống nhau nhưng có một số điểm khác nhau. Người thụ hưởng (người xuất khâu) L/C gốc lại là người xin mở L/C giáp lưng. Số chứng từ của L/C giáp lưng phải nhiều hơn L/C gốc.
Số tiền của L/C giáp lưng phải nhỏ hơn L/C gốc, khoản chênh lệch do người trung gian hưởng dùng để trả tiền chỉ phí mở L/C giáp lưng và phần hoa hồng của họ.7 Thư tin dụng đối ứng (Reciprocal L/C): Là loại L/C không thê hủy bỏ trong đó quy định nó chỉ có hiệu lực khi L/C kia đối ứng với nó được mở. Điều đó có nghĩa là tổ chức xuất khâu khi nhận được L/C do tô chức nhập khẩu mở thì phải mở lại L/C tương ứng thì nó mới có giá trị. Do không thể loại trừ khả năng rủi ro khi một trong hai bên không thực hiện hợp đồng vì vậy hai bên thống nhất sử dụng thư tín dụng đối ứng cho nhau hưởng. L/C này thường được sử dụng trong phương thức hàng đổi hàng.8 Thư tín dung dự phòng (Standby letter of Credit): Thư tín dụng dự phòng là loại L/C quy định việc hoàn lại số tiền của thư tín dụng trong trường hợp nhà xuất khâu không thực hiện đúng các quy định như trong thư tín dụng đó.
Người mở L/C dự phòng là nhà xuất khâu, ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu là ngân hàng phát hành L/C dự phòng. L/C dự phòng được sử dụng như một phương thức bảo đảm hợp đồng.9 Thư tin dụng chuyên nhượng (Transferable Letter of Credit): Thư tin dụng chuyên nhượng là loại L/C không hủy ngang và quy định quyền được chuyên nhượng toàn bộ hay một phần số tiền của L/C cho một hay nhiều người theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên. Thư tín dụng chuyên nhượng phải ghi chú “chuyển nhượng” và chỉ được phép chuyển nhượng một lần. Chi phí chuyển nhượng do người ra lệnh chuyển nhượng chịu.
Việc chuyển 14 nhượng L/C không có nghĩa là hợp đồng mua bán cũng được chuyên nhượng. Sự chuyền nhượng phải được thực hiện trên L/C gốc.10 Thư tín dung điều khoản đỏ (Red Clause L/C): Thư tín dụng điều khoản đỏ là L/C cho phép ngân hàng thông báo ứng trước cho người thụ hưởng để mua hàng hóa, nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng hóa theo L/C đã mở. Loại thư tín dụng này gọi là L/C điều khoản đỏ, vì điều khoản ban đầu được viết bằng mực đỏ dé lưu ý tính chất riêng biệt của loại thư tín dụng này. Ngày nay, dòng chữ in bằng mực đỏ được thay bang dòng chữ in nghiêng và đậm [44, tr.4 Quy trình thực hiện nghiệp vụ thư tín dụng (9) NHPH (8) NHTB (Issuing Bank) (Advising Bank) (3) (10) (2) (4) (6) (7) (1) Nguoi mo L/C Người thụ hưởng (Nhà nhập khẩu) (5) (Nhà xuất khẩu) Hình 1.1 Sơ đồ quy trình nghiệp vụ thanh toán bằng thư tín dụng Nguôn: Tổng hợp theo [44, tr.