mở đầu, là khâu đột phá trong cả tiến trình tố tụng hình sự. Điều tra vụ án là giai đoạn không thể thiếu và giữ vị trí quan trọng của quá trình tố tụng hình sự. Hoạt động điều tra thực chất là quá trình cơ quan tìm kiếm, thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ, đề nghị truy tố; tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa tội phạm. Thẩm quyền điều tra vụ án hình sự không chỉ thuộc về các CQDT, mà thẩm quyền đó còn thuộc về một số cơ quan, đơn vị tuy không phải là CQDT, nhưng vẫn được pháp luật giao quyền tiến hành một số hoạt động điều tra.
Thẩm quyền điều tra vụ án hình sự không chi được phân định giữa các CQDT hoặc các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ở các ngành khác nhau mà còn là sự phân định giữa cấp trên và cấp dưới trong cùng một hệ CQDT hoặc cùng một ngành. Thẩm quyền điều tra các vụ án hình sự của CQDT trong CAND là quyền tiến hành điều tra các vụ án hình sự mà pháp luật tố tụng hình sự giao cho các CQDT trong CAND. Thẩm quyền này được xác định trong mối quan hệ giữa các CQDT, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của các bộ, ngành khác và thuộc Bộ Công an; giữa hệ CQCSDT và hệ CQANDT; giữa CQDT các cấp trong cùng một hệ CQCSĐT, hệ CQANDT. Việc phân định thẩm quyền điều tra của CQDT nói chung, của CQDT trong CAND nói riêng dựa trên nhiều căn cứ, trong đó có ba căn cứ cơ bản: căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động của ngành, của đơn vị; căn cứ vào thẩm quyền xét xử của TAND các cấp và căn cứ vào địa giới quản lý hành chính nhà nước.
Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rằng, để quy định thẩm quyền điều tra của CQDT trong CAND được chặt chế va hợp lý, nhà làm luật đã sử dụng các căn cứ một cách kết hợp, đan xen, bổ sung tạo điều kiện cho nhau. 17 Chương 2 THẤM QUYỀN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRONG CÔNG AN NHÂN DÂN 2. THAM QUYỀN DIEU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CUA CO QUAN CẢNH SAT DIEU TRA 2. Tham quyền điều tra các vu án hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Tuy lực lượng CAND và lực lượng điều tra trong CAND được hình thành ngay từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời năm 1945, nhưng tên gọi CQCSDT thì mãi đến năm 1981 mới chính thức xuất hiện.
Ngày 12/6/1981 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 250/CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an). Nghị định đã quyết định bỏ tên Cục Chấp pháp ở Bộ, Phòng Chấp pháp ở Công an địa phương và thành lập hai lực lượng điều tra mới: Cục An ninh điều tra xét hỏi, Cục Cảnh sát điều tra xét hỏi (cấp Bộ) và Phòng An ninh điều tra xét hỏi, Phòng Cảnh sát điều tra xét hỏi (Công an cấp tỉnh) và Đội Cảnh sát điều tra (Công an cấp huyện). Lực lượng An ninh điều tra xét hỏi có thẩm quyền điều tra các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia, lực lượng Cảnh sát điều tra xét hỏi có thẩm quyền điều tra các vụ án xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Các đơn vị trinh sát hình sự, kinh tế không làm công tác điều tra xét hỏi mà chỉ chuyên trách công tác trinh sát bí mật phục vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Trên cơ sở cơ cấu tổ chức CQDT trong CAND như trên, tại Điều 92 BLTTHS năm 1988 và Điều 8 PLTCDTHS năm 1989 quy định: CQĐT của lực lượng Cảnh sát nhân có thẩm quyền điều tra các vu án về những tội phạm quy định từ Chương II đến Chương X Phần các tội phạm của BLHS khi tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND, trừ những tội 18 phạm thuộc thẩm quyền điều tra của CQDT của LLANND và những trường hợp do CQDT của VKSND tiến hành. Đối với các tội phạm quy định tại các điều 94,95, 96 và Ø7 của BLHS, việc phân công trách nhiệm điều tra giữa các CQDT của LLCSND và LLANND do Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) quyết định. Triển khai thực hiện quy định trên, ngày 09/5/1989 Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) ban hành Chỉ thị số 11/CT-BNV về việc tổ chức công tác điều tra tội phạm của lực lượng CAND trong tình hình mới. Theo Chỉ thị này, đối với các tội phạm quy định tại các điều Điều 94 (Tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 95 (Tội chế tạo tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự); Điều 96 (Tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất nổ, chất cháy, chất độc, phóng xạ); Điều 97 (Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới) quy định tại Chương I (Các tội xâm phạm an ninh quốc gia) Phần các tội phạm của BLHS, nếu CQDT của LLCSND phát hiện thì tiến hành điều tra.
Trường hop qua điều tra thấy rõ hành vi ấy có hại cho an ninh quốc gia, gây ảnh hưởng xấu về chính trị, gây hoang mang trong nhân dân hay người phạm tội đã có tiền án hoặc tiên sự về một tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia thì chuyển cho CQDT của LLANND tiến hành điều tra hoặc trường hợp LLANND đã tiến hành chuyên án trinh sát thì khi phát hiện, vụ án sẽ do CQDT của lực lượng An ninh điều tra. Thực tiễn triển khai thực hiện quy định về phân công điều tra các tội quy định tại các điều 94, 95, 96 và 97 của BLHS như trên, bên cạnh những thuận lợi cũng xuất hiện những khó khăn, bất cập nhất định. Có thể nêu như: xét về tính chất, các tội quy định tại các điều 94, 95 và 96 của BLHS xâm hại đến an ninh quốc gia, nên việc điều tra khám phá cũng cần sử dụng nhiều nghiệp vụ điều tra đối với các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia, do cán bộ điều tra của LLANND đảm nhiệm mới thích hợp. Đối với tội phạm quy định 19 tại Điều 96a BLHS (Tội sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma tuý) thì việc điều tra có thể sử dụng nghiệp vụ như với các vụ án hình sự thường, các vụ án buôn bán hàng cấm.
nên giao cho lực lượng Cảnh sát điều tra thì sẽ phù hợp hơn. Con tội phạm quy định tại Điều 97 BLHS (Tội buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới) có liên quan đến lĩnh vực công tác của nhiều cơ quan như Biên phòng, Hải quan, An ninh nhân dân, Cảnh sát nhân dân cho nên tội phạm này có thể giao cho cả CQDT của LLCSND và LLANND có thẩm quyền điều tra. Từ hiện trạng ấy, ngày 21/12/1992 Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) đã ký Công văn số 440 phân công lại thẩm quyền điều tra đối với một số tội phạm, trong đó có các tội phạm quy định tại các 94, 95, 96a va 97 như sau: Đối với các tội phạm quy định tại các điều 94, 95, 96 của BLHS do CQDT của LLANND thụ lý điều tra. Đối với các tội phạm quy định tại Điều 96a BLHS do CQDT của LLCSND thụ lý điều tra.
Đối với các tội quy định tại Điều 97 BLHS do lực lượng nào (An ninh nhân dân hoặc Cảnh sát nhân dân) phát hiện hoặc do cơ quan ngoài ngành chuyển cho CQDT của lực lượng nào, thì CQDT của lực lượng đó thụ lý điều tra. Theo công văn số 440 nêu trên, thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra và CQANĐT đã được phân định hợp lý hơn trước, phù hợp với thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần giữ vững an ninh chính tri và trật tự, an toàn xã hội. Về thẩm quyền điều tra của CQCSDT các cấp: Cục Cảnh sát điều tra của LLCSND ở Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) diéu tra tất cả các loại tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của CQDT của LLCSND khi xét thấy cần trực tiếp điều tra. Đó thường là những vụ án có tình tiết nghiêm trọng, phức tạp; vụ án mà bị can là người có đặc điểm nhân thân đặc biệt; vụ án liên quan đến nhiều địa phương hoặc những vụ án xét thấy nếu để cho CQDT cấp dưới tiến hành điều tra sẽ khó đảm bảo tính khách quan.
Phòng Cảnh sát điều tra của LLCSND Công an cấp tỉnh điều tra tất cả các vụ 20 án về những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của LLCSND, nếu vụ án đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh và điều tra các vụ án về những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của CQDT Công an cấp huyện nhưng có những tình tiết phức tạp, vụ án mà bị can là người có đặc điểm nhân thân đặc biệt hoặc những vụ án mà xét thấy nếu để cho CQDT cấp huyện tiến hành sẽ khó đảm bảo tính khách quan.