Chương 1. Những vấn đề chung về thẩm định dự án có vốn đầu tư nước ngoài Chương 2. Quy định pháp luật về thẩm định dự án có vốn đầu tư nước ngoài và đề xuất hoàn thiện pháp luật 7 CHƢƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI 1. Khái niệm về thẩm định dự án đầu tư Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét một cách khách quan có khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi của dự án.
Từ đó có quyết định đầu tư và cho phép đầu tư. Đây là một quá trình kiểm tra đánh giá nội dung dự án một cách độc lập cách biệt với quá trình soạn thảo dự án. Thẩm định dự án đã tạo ra cơ sở vững chắc cho hoạt động đầu tư có hiệu quả. Các kết luận rút ra từ quá trình thẩm định là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước ra quyết đầu tư và cho phép đầu tư2.
Thẩm định dự án đầu tư giúp cho nhà đầu tư lựa chọn phương án đầu tư tốt; giúp cho cơ quan quản lý đầu tư đánh giá được tính phù hợp của dự án với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch sử dụng đất, đánh giá tác động, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án, đánh giá căn cứ pháp lý về quyền sử dụng đất của nhà đầu tư, đánh giá về công nghệ sử dụng trong dự án. Khái niệm tương tự về thẩm định dự án đầu tư được quy định lần đầu trong Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 được sửa đổi bổ sung năm 2000 và Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2000 quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (“Nghị định 24/2000/NĐ-CP”), là “thẩm định cấp Giấy phép đầu tư”. Theo quy định, dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được chấp thuận dưới hình thức Giấy phép đầu tư. Để nhận được Giấy phép đầu tư thì nhà đầu tư phải thực hiện một trong hai thủ tục là: (i) đăng ký cấp Giấy phép đầu tư; hoặc (ii) thẩm định cấp Giấy phép đầu tư3.
Nghị định số 24/2000/NĐ-CP quy định rõ việc thẩm định cấp giấy phép đầu tư phải thoả mãn 2 Bùi Xuân Phong (2006), Giáo trình Quản trị dự án đầu tư, tài liệu giảng dạy của Học viện công nghệ bưu chính viễn thông, tr. 3 Điều 104 Nghị định 24/2000/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. 8 các điều kiện liên quan đến: (i) hồ sơ thẩm định; (ii) nội dung thẩm định; (iii) quy trình thẩm định; và (iv) cơ quan có thẩm quyền thẩm định cấp Giấy phép đầu tư được quy định tại Điều 104 và từ Điều 107 đến Điều 110 của Nghị định 24/2000/NĐ-CP. Luật Đầu tư năm 2005 lần đầu quy định thẩm tra dự án đầu tư như một thủ tục đầu tư “Đối với dự án đầu tư trong nước, dự án có vốn đầu tư nước ngoài có quy mô vốn đầu tư từ 300 tỷ đồng Việt Nam trở lên và dự án thuộc Danh mục dự án đầu tư có điều kiện thì phải thực hiện thủ tục thẩm tra để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư”4.
Ngoài ra, các quy định về hồ sơ thẩm tra, nội dung thẩm tra, thời gian thẩm tra và cơ quan thẩm tra được quy định cụ thể tại Điều 48 và Điều 49 của Luật Đầu tư năm 2005 và từ Điều 45 đến Điều 50 Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư (“Nghị định 108/2006/NĐ-CP”). Theo Luật Đầu tư năm 2014, thủ tục đầu tư được quy định theo ba nhóm dự án đầu tư là (i) dự án không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư5, (ii) dự án phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư6, (iii) thực hiện dự án sau khi được quyết định chủ trương đầu tư7. Đối với các dự án đầu tư phải có quyết định chủ trương đầu tư trước khi cấp Giấy chứng nhận đầu tư, thủ tục đầu tư bao gồm có hoạt động thẩm định và thẩm tra của cơ quan quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư, gồm: (i) thẩm định của cơ quan nhà nước nước đối với dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, của Thủ tướng Chính phủ và của Quốc hội; (ii) cơ quan chủ trì thẩm tra của Quốc hội thẩm tra Hồ sơ quyết định chủ trương đầu tư đối với dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội. Trên cơ sở quy định pháp luật nói trên về thẩm định cấp Giấy phép đầu tư theo Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 được sửa đổi, bổ sung năm 2000, thẩm tra dự án đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2005 và thẩm định/thẩm tra dự án đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014 thì mặc dù có sự khác nhau về tên gọi, tuy nhiên, về 4 Khoản 1 Điều 47 của Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005.
5 Khoản 2 Điều 36 của Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014. 6 Khoản 1 Điều 36 Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014. 7 Khoản 3 Điều 36 Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014. 9 mặt hồ sơ, thủ tục và nội dung thì không có sự khác nhau lớn giữa các thủ tục này cụ thể là theo các thủ tục này thì nhà đầu tư phải đáp ứng các yêu cầu về hồ sơ, thời gian, nội dung và là hoạt động do cơ quan nhà nước quản lý đầu tư thực hiện nhằm mục đích xem xét một cách khách quan, khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản của dự án đầu tư theo một quy trình chặt chẽ để đưa ra kết luận mang tính đúng đắn, hợp pháp và khả thi của dự án đầu tư để quyết định về đầu tư và cho phép đầu tư làm cơ sở cho việc cấp Giấy chứng nhận đầu tư.
Nhƣ vậy, trên cơ sở phân tích nói trên thì thẩm định dự án có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài có một số đặc điểm sau: Một là, thẩm định dự án có vốn đầu tư nước ngoài là một thủ tục trong thủ tục đầu tư làm cơ sở cho việc xem xét cấp giấy chứng nhận đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào thị trường Việt Nam. Hai là, hoạt động thẩm định dự án có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được thực hiện đối với dự án đầu tư có vốn đầu tư nước ngoài thuộc quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Ba là, việc thẩm định phải do cơ quan có thẩm quyền thực hiện theo trình tự thủ tục trong một thời gian cụ thể được quy định trong các văn bản pháp luật có liên quan trên cơ sở hồ sơ thẩm định đầy đủ và hợp lệ theo luật định. Kết quả thẩm định làm cơ sở cho việc quyết định chủ trương đầu tư và cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
Trên cơ sở các đặc điểm nói trên có thể hiểu thẩm định dự án có vốn đầu tư nước ngoài là thủ tục trong thủ tục đầu tư trong đó cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư xem xét một cách khách quan, khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản của dự án đầu tư của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thuộc quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trên cơ sở tài liệu do nhà đầu tư cung cấp theo một quy trình chặt chẽ để đưa ra kết luận mang tính đúng đắn, hợp pháp và khả thi của dự án có vốn đầu tư nước ngoài để quyết định về đầu tư và cho phép đầu tư làm cơ sở cho việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Khái niệm về nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Theo Luật Đầu tư 2005, thì “nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư”8 và “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại”9. Như vậy, theo quy định nói trên của Luật Đầu tư năm 2005 thì chỉ cần doanh nghiệp có một phần vốn rất nhỏ nước ngoài do mua cổ phần vẫn được xem là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Ngoài ra, vào ngày 18 tháng 6 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg (“Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg”) về việc ban hành quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam.
Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài bao gồm tổ chức và cá nhân nước ngoài, gồm: (i) Tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và chi nhánh của các tổ chức này tại nước ngoài và tại Việt Nam; (ii) Tổ chức thành lập và hoạt động tại Việt Nam có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài trên 49%; (iii) Quỹ đầu tư, công ty chứng khoán có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài trên 49%; và (iv) Cá nhân nước ngoài là người không mang quốc tịch Việt Nam, cư trú tại nước ngoài hay ở Việt Nam. Theo quy định này thì các doanh nghiệp thành lập ở Việt Nam có phần sở hữu nước ngoài trên 49% thì được xem nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, các quy định của Quyết định 88/2009/QĐ-TTg chỉ được áp dụng liên quan đến việc góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, theo Khoản 3 Điều 9 của Nghị định 139/2007/NĐ-CP ngày 05 tháng 09 năm 2007 (“Nghị định 139/2007/NĐ-CP”) hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11(“Luật Doanh nghiệp năm 2005”) đã căn cứ vào tỷ lệ sở hữu vốn của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp để yêu cầu thực hiện thủ tục đầu tư hoặc đăng ký kinh doanh.
Theo đó, trường hợp doanh nghiệp dự định thành lập mà nhà đầu tư nước ngoài sở hữu 8 Khoản 5 Điều 3 của Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005.