Sự tham gia của Thái Lan vào mạng sản xuất ô tô toàn cầu và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích sự tham gia của thái lan vào mạng sản xuất ô tô toàn cầu và hàm ý chính sách cho việt nam, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri

Chuyên ngành

Kinh tế quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ kinh tế

2022

197
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về sự tham gia của Thái Lan vào mạng sản xuất ô tô toàn cầu

Thái Lan đã trở thành một trong những quốc gia hàng đầu trong mạng sản xuất ô tô toàn cầu, đặc biệt là ở khu vực Đông Nam Á. Với sự hỗ trợ từ chính sách công nghiệp hiệu quả, Thái Lan đã thu hút được nhiều tập đoàn ô tô lớn như Toyota, Honda, và Ford. Sản xuất ô tô toàn cầu tại Thái Lan không chỉ đáp ứng nhu cầu nội địa mà còn hướng tới xuất khẩu, đóng góp đáng kể vào GDP quốc gia. Bài học chính sách từ Thái Lan cho thấy tầm quan trọng của việc kết hợp giữa hợp tác toàn cầu và phát triển công nghiệp nội địa.

1.1. Lịch sử phát triển ngành công nghiệp ô tô Thái Lan

Ngành công nghiệp ô tô Thái Lan bắt đầu từ những năm 1960 với các chính sách bảo hộ nhằm thu hút đầu tư nước ngoài. Giai đoạn đầu, Thái Lan tập trung vào lắp ráp xe với linh kiện nhập khẩu. Từ năm 1987, chính sách tự do hóa đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngành này. Đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các cụm công nghiệp ô tô, giúp Thái Lan trở thành trung tâm sản xuất ô tô khu vực.

1.2. Vai trò của chính sách công nghiệp

Chính sách công nghiệp của Thái Lan tập trung vào việc phát triển công nghiệp hỗ trợcông nghệ ô tô. Các biện pháp như ưu đãi thuế, phát triển cơ sở hạ tầng, và đào tạo nguồn nhân lực đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu. Kinh nghiệm quốc tế từ Thái Lan cho thấy sự cần thiết của việc xây dựng chiến lược dài hạn để phát triển ngành công nghiệp ô tô.

II. Bài học chính sách cho Việt Nam

Việt Nam có thể học hỏi nhiều từ kinh nghiệm quốc tế của Thái Lan trong việc tham gia mạng sản xuất ô tô toàn cầu. Chiến lược phát triển của Việt Nam cần tập trung vào việc thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển công nghiệp hỗ trợ, và nâng cao năng lực công nghệ. Hội nhập kinh tếhợp tác toàn cầu sẽ là chìa khóa để Việt Nam tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu.

2.1. Thu hút đầu tư nước ngoài

Việt Nam cần tạo môi trường đầu tư hấp dẫn thông qua các chính sách ưu đãi thuế và cải thiện cơ sở hạ tầng. Đầu tư nước ngoài sẽ giúp Việt Nam tiếp cận công nghệ tiên tiến và mở rộng thị trường xuất khẩu. Kinh nghiệm quốc tế từ Thái Lan cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng mối quan hệ bền vững với các tập đoàn đa quốc gia.

2.2. Phát triển công nghiệp hỗ trợ

Việt Nam cần tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ để tăng tỷ lệ nội địa hóa trong sản xuất ô tô. Chính sách công nghiệp cần khuyến khích các doanh nghiệp nội địa tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Kinh nghiệm quốc tế từ Thái Lan cho thấy việc phát triển các cụm công nghiệp sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành ô tô.

III. Triển vọng và thách thức cho Việt Nam

Việt Nam có tiềm năng lớn trong việc tham gia mạng sản xuất ô tô toàn cầu, nhưng cũng đối mặt với nhiều thách thức. Chiến lược phát triển cần được xây dựng dựa trên kinh nghiệm quốc tế và điều kiện thực tế của đất nước. Hội nhập kinh tếhợp tác toàn cầu sẽ là yếu tố then chốt giúp Việt Nam vượt qua các thách thức và phát triển ngành công nghiệp ô tô bền vững.

3.1. Cơ hội từ hội nhập kinh tế

Việt Nam có thể tận dụng các hiệp định thương mại tự do để mở rộng thị trường và thu hút đầu tư. Hội nhập kinh tế sẽ giúp Việt Nam tiếp cận công nghệ tiên tiến và nâng cao năng lực cạnh tranh. Kinh nghiệm quốc tế từ Thái Lan cho thấy tầm quan trọng của việc tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu.

3.2. Thách thức trong phát triển công nghiệp ô tô

Việt Nam cần đối mặt với thách thức về năng lực công nghệ và cạnh tranh từ các quốc gia khác. Chính sách công nghiệp cần tập trung vào việc đào tạo nguồn nhân lực và phát triển công nghệ ô tô. Kinh nghiệm quốc tế từ Thái Lan cho thấy việc xây dựng chiến lược dài hạn là yếu tố then chốt để phát triển ngành công nghiệp ô tô.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ sự tham gia của thái lan vào mạng sản xuất ô tô toàn cầu và hàm ý chính sách cho việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SỰ THAM GIA CỦA THÁI LAN VÀO MẠNG SẢN XUẤT Ô TÔ TOÀN CẦU VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Về mặt lý thuyết, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến các khái niệm, nội dung và bản chất của mạng sản xuất toàn cầu. Khái niệm mạng sản xuất còn được tiếp cận dưới nhiều lý thuyết khác nhau như: Lý thuyết về phân đoạn sản xuất1; Lý thuyết về mô hình đàn nhạn bay2; Lý thuyết không gian kinh tế3.Các cách tiếp cận trên sử dụng các thuật ngữ khác nhau để mô tả mạng sản xuất như một hệ thống các giá trị, dòng giá trị (Womack và Joné, 1996), chuỗi giá trị (Kaplinsky, 1998); chuỗi giá trị toàn cầu (Campbell, 1995); Gereffi, G. Ngoài ra, cách tiếp cận mạng sản xuất được phát triển bởi Henderson và các cộng sự (2002); Ernst và Kim (2001); Dunning, John (1981).

Nghiên cứu của tác giả cũng đưa ra khái niệm mạng sản xuất, mạng sản xuất toàn cầu. Theo các tác giả mạng sản xuất được định nghĩa là một mạng lưới các doanh nghiệp tham gia vào quá trình nghiên cứu và phái triển, thiết kế, sản xuất và marketing một sản phẩm cụ thể. Mạng sản xuất toàn cầu là một hình thức tổ chức công nghiệp mới, bao gồm sự phân tán tập trung chuỗi giá trị giữa các công ty và giữa các nước song song với quá trình hội nhập 1 Sự phân đoạn và hội tụ trong sản xuất xuất hiện khi chi phí vận chuyển, liên kết trở nên đắt đỏ. Do vậy, một vài công đoạn của quá trình sản xuất sau khi được chia tách sẽ sản xuất tập trung tại một nơi có những thuận lợi nhất định, đặc biệt các sản phẩm đòi hỏi yêu cầu phải giao hàng đúng hạn, đúng hẹn và quá cồng kềnh, quá trình tập trung sản xuất tại một địa điểm nhất định được gọi là sự hội tụ trong sản xuất 2 Mô hình đàn nhạn bay được Akamatsu dùng để phân tích vai trò của Nhật Bản trong quá trình hội nhập Đông Á.

Hình đàn nhạn bay được Akamatsu lần đầu tiên sử dụng vào năm 1943, đây là một mô hình phát triển công nghiệp mô tả sự hình thành các luồng thương mại nội ngành, sản xuất và tăng trưởng của từng quốc gia. Kojima năm 1973 đã sử dụng tên mới đó là mô hình chu kỳ rượt đuổi sản phẩm (catching- up product cycle) sau khi phối hợp mô hình đàn nhạn bay với phân tích chu kỳ rượt đuổi sản phẩm (catching – up Product cycle) của Vernon năm 1964) 3 Kinh tế học không gian hay còn gọi là địa lý kinh tế mới (new economy geography) được hình thành khi nhà kinh tế học hoạt động trong lĩnh vực thương mại quốc tế. Với các phương pháp tiếp cận khác nhau, các lý thuyết không gian kinh tế quan tâm đến các vấn đề như vị trí địa lý của các ngành công nghiệp, lợi ích kinh tế của việc hội tụ các hoạt động sản xuất như các cụm kinh tế hay cụm công nghiệp, chi phí giao thông vận tải, thương mại quốc tế và sự phát triển. 10 nhiều tầng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị.

Đồng thời tác giả cũng phân tích mạng sản xuất toàn cầu theo ba liên kết (1) liên kết hoạt động trong nội bộ công ty- liên kết dọc; (2) Liên kết giữa các công ty, các nhóm công ty trong một chuỗi giá trị toàn cầu để sản xuất, phân phối và hỗ trợ người tiêu dùng- liên kết ngang; (3) Liên kết giữa các nhóm công ty nằm tại các quốc gia khác nhau- liên kết đa quốc gia. Như vậy, trên thực tế, mạng sản xuất toàn cầu là một tổ hợp các doanh nghiệp thuộc nhiều quốc gia trên các lục địa hay khu vực mậu dịch tự do khác nhau cùng phối hợp, phân công các công việc thiết kế, sản xuất, lắp ráp, phân phối sản phẩm dưới sự dẫn dắt của công ty xuyên quốc gia co tiềm lực về tài chính, công nghệ… Nghiên cứu về mối quan hệ giữa cụm công nghiệp và mạng sản xuất có các tác giả Athukorala, P. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới hình thành mạng sản xuất Đông Á, khi chi phí vận chuyển gia tăng và chu kỳ sống của sản phẩm đã giảm xuống thì các công ty đứng đầu buộc phải tìm ra hướng sản xuất, phân phối sản phẩm một cách nhanh nhất. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, dù công ty đứng đầu là công ty đa quốc gia hay doanh nghiệp trong nước thì tham gia mạng sản xuất cũng giúp cho ngành công nghiệp trong nước phát triển, đặc biệt các ngành có hàm lượng công nghệ cao.

Nghiên cứu về sự cần thiết phải tham gia mạng sản xuất toàn cầu còn có tác giả EL-Agraa, Ali M (1999). Thứ nhất, vai trò của mạng sản xuất đối với hội nhập kinh tế, mạng lưới sản xuất toàn cầu là nền tảng quan trọng tạo ra mối liên kết kinh tế tự nhiên. Mạng sản xuất khu vực và toàn cầu đã tạo điều kiện để các doanh nghiệp các nước trong mạng sát gần nhau hơn. Để tạo điều kiện cho thương mại nội ngành, nội vùng, các nước trong khu vực tích cực ký kết các cam kết thương mại cũng như đầu tư.

Do đó, hội nhập kinh tế diễn ra nhanh hơn, mạnh mẽ hơn nhờ có mạng sản xuât khu vực và toàn cầu; Thứ hai, mạng sản xuất đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu cả công ty đa quốc gia và các doanh nghiệp trong nước đều được hưởng lợi. Đối với công ty đa quốc gia, họ có nhiều cơ hội tiếp cận các nguồn lực, khả năng từ bên ngoài và tận dụng lợi thế cạnh tranh của các địa phương để củng cố, tăng cường khả năng cạnh tranh của mình. Do đó, lợi 11 nhuận cao hơn và vị trí cũng như quyền lực trên trường quốc tế cũng vững chắc hơn.

Đối với các doanh nghiệp trong nước, năng suất lao động cao hơn nhờ sự chuyển giao công nghệ từ các công ty đa quốc gia. Đây được coi là một trong những ảnh hưởng của lan tỏa tri thức cũng như công nghệ, dẫn tới sản xuất được hiện đại hóa, kỹ năng được nâng cao, hiệu quả sản xuất tăng, lợi nhuận tăng cao; Thứ ba, mạng sản suất đối với lợi ích quốc gia có doanh nghiệp tham gia mạng sản xuất toàn cầu. Tham gia mạng sản xuất toàn cầu các quốc gia có cơ hội gia tăng vốn đầu tư nước ngoài; Gia tăng nguồn lợi từ các hoạt động xuất khẩu; Tăng nguồn thu của chính phủ; Kỹ năng, đời sống và ý thức của người dân cũng được tăng cao; Tạo việc làm, nâng cao thu nhập và chất lượng nguồn nhân lực. Về mặt thực tiễn, cũng đã có nhiều công trình trình bày về các nội dung liên quan đến mạng sản xuất ô tô toàn cầu của Thái Lan.

Theo nghiên cứu của Viện nghiên cứu ô tô Thái Lan (2012), công nghiệp ô tô là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn của Thái Lan. Ngành này đã đóng góp 10% vào GDP Thái Lan và giải quyết hơn 500.000 lao động có tay nghề. Năm 2020, Thái Lan hiện là trung tâm sản xuất ô tô lớn nhất Châu Á và là nước sản xuất ô tô lớn thứ 11 trên thế giới. Hiện nay, Thái Lan đang hướng tới trở thành nhà sản xuất ô tô xanh lớn trên thế giới với chuỗi cung ứng nội địa phát triển.

Nghiên cứu về thực trạng công nghiệp ô tô Thái Lan và định vị công nghiệp ô tô Thái Lan trong khu vực có các nghiên cứu như: Farrel và Findlay (2001), Natsuda và Thoburn (2011), Abdulsomad (1999). Các tác giả nghiên cứu quá trình Thái Lan bắt đầu phát triển công nghiệp ô tô từ những năm 1960. Mục tiêu ban đầu của Chính phủ là sản xuất để thay thế nhập khẩu, để đạt được mục tiêu đó thì hàng loạt chính sách thu hút đầu tư hợp lý của Chính phủ. Đồng thời các tác giả cũng phân tích các thách thức, triển vọng và chiến lược phát triển công nghiệp ô tô Thái Lan.

Để phát triển ngành công nghiệp này, Chính phủ Thái Lan đã áp dụng rất nhiều chính sách theo từng giai đoạn như: mô hình thay thế nhập khẩu (1960-1970), rồi chuyển sang nội địa hóa việc sản xuất (1971-1977), tăng cường năng lực nội địa hóa (1978-1990), các giai đoạn tự do hóa (1991-1999) và tạo ra khả năng cạnh tranh quốc tế (2000- 12 2010). Việc thành lập Hội các nhà Sản xuất phụ tùng ô tô Thái Lan (TAPMA) năm 1972 là bước khởi phát cho việc nội địa hóa mạnh mẽ công nghiệp hỗ trợ ô tô. Chính phủ buộc các nhà lắp ráp phải nội địa hóa sản xuất các bộ phận cụ thể bằng cách “xóa bắt buộc” việc nhập khẩu đối với các linh kiện, phụ tùng cụ thể như trống phanh, hệ thống 17 ống xả, … đến nội địa hóa cả động cơ diesel. Nhờ đó, đã thiết lập một tỷ lệ nội địa hóa 20% ban đầu cho các bộ phận động cơ vào cuối những năm 1970, tăng lên đến 60% cho các dự án do Cục Đầu tư phê duyệt và 80% cho các dự án do Bộ Công nghiệp phê duyệt vào năm 2010.

Ngoài ra có một số nghiên cứu bàn về việc phát triển và gia nhập mạng sản xuất toàn cầu của công nghiệp ô tô Thái Lan. Chính phủ Thái Lan đã khuyến khích khối tư nhân và các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào phát triển công nghiệp ô tô (không có sự tham gia của khối doanh nghiệp nhà nước). Chính phủ Thái Lan hợp tác với các công ty đa quốc gia và khuyến khích họ xây dựng cơ sở sản xuất tại Thái Lan. Trong giai đoạn này có hàng loạt chính sách về thuế và tự do chuyển vốn và công nghệ vào Thái Lan.

Nghiên cứu về vấn đề này có Fujita (1998), Terdudomtham (2004), Postigo (2013), Doner (2009), Natsuda và Thoburn (2011). Bên cạnh đó, các nghiên cứu phân tích chính sách nâng cấp ngành giúp Thái Lan tham gia mạng sản xuất toàn cầu và đạt được thành công có tác giả Natsuda và Thoburn (2011), Wad (2009), tác giả Terdudomtham (2004), Komura (2000), Techakanont (2008), Kohpaiboon và cộng sự (2010). Điểm nổi bật của chính sách này là Thái Lan đã xây dựng được một khung phân tích rõ ràng và thúc đẩy được sự tham gia của nhóm lợi ích vào xây dựng quy hoạch. Xuất phát từ chuỗi giá trị trong công nghiệp ô tô, Thái Lan đã sử dụng mô hình Michael Porter để đánh giá ngành.

Các vấn đề được đánh giá bao gồm: năng lực sản xuất, khả năng đáp ứng yêu cầu của các nhà cung cấp và khẳ năng về công nghê, năng lực sản xuất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Thái Lan tham gia mạng sản xuất ô tô toàn cầu và bài học chính sách cho Việt Nam" phân tích chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô của Thái Lan, từ đó rút ra những bài học quý giá cho Việt Nam. Nội dung tập trung vào cách Thái Lan thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển chuỗi cung ứng, và nâng cao năng lực cạnh tranh trong ngành công nghiệp ô tô. Đây là nguồn tham khảo hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp Việt Nam trong việc xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp bền vững.

Để hiểu sâu hơn về các chính sách phát triển công nghiệp, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ chính sách phát triển công nghiệp gia công của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ kinh tế phát triển công nghiệp hỗ trợ ở một số nước Đông Á và bài học cho Việt Nam cung cấp góc nhìn toàn diện về mô hình phát triển công nghiệp hỗ trợ. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ phát triển công nghiệp hỗ trợ của Hà Nội trong bối cảnh hội nhập quốc tế sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về thực tiễn và thách thức trong quá trình hội nhập.