Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở CÁC NƯỚC ĐÔNG Á VÀ VIỆT NAM 1.Những công trình nước ngoài có liên quan Hiện nay, có một số công trình khoa học của các nước nghiên cứu về CNHT dưới các khía cạnh khác nhau mà tác giả tìm hiểu và phân loại cụ thể dưới đây: 1.1 Nhóm công trình nghiên cứu cơ sở lý luận về công nghiệp hỗ trợ - Cuốn sách: “White paper on Industry and Trade” (Sách trắng về hợp tác kinh tế) của Bộ thương mại và công nghiệp quốc tế Nhật Bản, năm 1985, nơi thuật ngữ công nghiệp hỗ trợ (CNHT) được dùng để chỉ “Các doanh nghiệp vừa và nhỏ” (SMEs), các doanh nghiệp góp phần tăng cường cơ sở hạ tầng công nghiệp ở các nước châu Á. Trong cuốn sách này các tác giả làm rõ được các khái niệm liên quan về doanh nghiệp CNHT bằng cách đi sâu làm rõ các vai trò của các công ty sản xuất linh kiện, phụ kiện trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa (CNH- HĐH) của các nước ASEAN. Khi đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa được thúc đẩy phát triển, hỗ trợ các doanh nghiệp lớn, các ngành công nghiệp nói chung và được coi là các doanh nghiệp hỗ trợ [8]. - Công trình nghiên cứu: “Production Networks and Industrial Clusters: Integrating Economies in Southeast Asia” (Mạng lưới sản xuất và cụm công nghiệp: Các nền kinh tế mới nổi tại Đông Á), 2008, Ikuo Kuroiwa và Toh Mun Heng, công trình với cách nhìn tổng quan về mạng lưới sản xuất (MLSX) và cụm công nghiệp (CCN) tại ASEAN, như cơ chế MLXS, mối quan hệ giữa cụm CCN và MLSX tại khu vực này.
Nghiên cứu đã phân tích CCN điện tử tại Indonexia và Malaysia, cũng như phát triển của các CCN ô tô và MLSX tại Thái Lan, trên cơ sở đó đề xuất hướng hợp tác kinh tế khu vực. - Công trình nghiên cứu: “Green Practices in Supply Chain Management: Case Studies” (Nghiên cứu: Thực hành trong quản lý chuỗi cung ứng xanh), 2020, Mehmet Sıtkı Saygili, , Ziynet Karabacak , Quản lý chuỗi cung ứng xanh (GSCM) đã nổi lên trong vài năm qua như một mô hình quản lý quan trọng. Các công ty đã xem xét chuỗi cung ứng của họ (SC´s) và nhận thấy những lĩnh vực mà cải tiến hoạt động có thể tạo ra mức hiệu suất tốt nhất hạn chế ảnh hưởng đến môi trường, xã hội. Mục đích của nghiên cứu này là cung cấp thông tin về các phát triển và phạm vi của khái 8 niệm quản lý chuỗi cung ứng xanh trong khuôn khổ của nghiên cứu tài liệu và trình bày các trường hợp từ các ứng dụng chuỗi cung ứng xanh của các công ty trong lĩnh vực khác nhau.
Từ đó có đủ cơ sở, đánh giá tác động môi trường, xã hội và kinh tế của môi trường xanh thực tiễn tại các công ty nghiên cứu.[102] - Công trình nghiên cứu: “The Competitive Advantage Of Nations” (Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia), Harvard Business Review được xuất bản thành sách của tác giả M. Porter, công bố năm 1990, NXB. Đại học Havard - New York Mỹ. Trong đó, CNHT đã được phân tích như là một trong năm yếu tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh của một quốc gia; đây được xem là yếu tố quyết định lớn thứ ba của lợi thế quốc gia trong việc cạnh tranh quốc tế.
Kinh nghiệm rút ra ở đây là các nhà cung cấp quốc tế tạo ra lợi thế cạnh tranh thông qua các ngành công nghiệp hỗ trợ bằng cách họ cung cấp các đầu vào chi phí-hiệu quả nhất một cách sớm nhất, nhanh chóng, hiệu quả và đôi khi có cả ưu đãi đối với các nước có nền công nghiệp hỗ trợ đang phát triển, đổi lại các công ty này có thể dễ dàng tìm nguồn nguyên liệu từ nước ngoài, các thành phần, hoặc các công nghệ hỗ trợ mà không cần phải bỏ tự bỏ vốn sản xuất chúng [101]. - Công trình nghiên cứu: “Investigation report for industrial development: supporting industry sector” (Báo cáo điều tra phát triển công nghiệp: lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ) – Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), (2005), Tokyo. Tài liệu này đã đưa ra báo cáo điều tra phát triển công nghiệp về “ngành công nghiệp hỗ trợ”, đã đánh giá vai trò quan trọng và thực trạng CNHT trong các ngành công nghiệp Nhật Bản; kết luận về mối liên hệ, tính liên kết trong sản xuất sản phẩm cũng như cho ngành công nghiệp nói riêng, nền kinh tế Nhật Bản nói chung. Cụ thể đối với sản phẩm, bộ phận, chi tiết của Nhật Bản sản xuất tại Việt Nam phụ thuộc vào các yếu tố chất lượng, chi phí, thời gian để có thể cạnh tranh trên thị trường, do vậy để giảm chi phí và thời gian giao hàng, đồng thời đảm bảo được chất lượng sản phẩm thì cần thiết sự phát triển lành mạnh của các ngành công nghiệp hỗ trợ này [94].
- Công trình nghiên cứu “Supporting Industries: A Review of Concepts and Development” (Các ngành công nghiệp hỗ trợ: Đánh giá các khái niệm và phát triển) – Nguyen Thi Xuan Thuy, năm 2006. Tài liệu này đề xuất các định nghĩa về công nghiệp hỗ trợ có thể sử dụng ở Việt Nam, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, xúc tiến hợp tác cho các địa phương, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành công nghiệp hỗ trợ, kỹ nghệ mối liên kết thử nghiệm, và mạng lưới sản xuất đặc biệt quan trọng, đồng thời cũng chỉ 9 rõ được những điểm đồng nhất về xuất phát điểm, đặc điểm kinh tế của Việt Nam với một số nước trên thế giới như Trung Quốc, Malaysia, Hàn Quốc từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm có thể áp dụng ở Việt Nam [113]. - Công trình nghiên cứu: “Promotion of surporting Industries- The key for attracting FDI in development countries” (Thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ - Chìa khóa để thu hút FDI ở các nước đang phát triển), Do Manh Hong, 2008. Công trình trên thể hiện được vai trò của ngành CNHT như chìa khóa thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư và các nước đang phát triển, vai trò này được đánh giá ngành càng quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển nền kinh tế.
Các nước đang phát triển cần tạo một môi trường đầu tư hấp dẫn theo con đường duy nhất là xây dựng và phát triển một ngành CNHT đủ lớn, có khả năng mang lợi lại cho dòng vốn FDI một cách hiệu quả và bền vững [88]. Nhóm công trình nghiên cứu về phát triển công nghiệp hỗ trợ. - Công trình nghiên cứu: “Strengthening of Supporting Industries: Asian Experience” (Tăng cường các ngành công nghiệp hỗ trợ: Kinh nghiệm Châu Á), của Asian Productivity Organisation (Tổ chức Năng suất châu Á), xuất bản năm 2002. Tác phẩm tập trung trình bày về các chính sách phát triển CNHT qua các giai đoạn ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan.
Các chính sách này chủ yếu tìm hiểu vào một số nội dung chính như: quy định về tỷ lệ nội hóa và hỗ trợ mạnh mẽ, thu hút đầu tư nước ngoài, khả năng liên kết doanh nghiệp là điều kiện cần và đủ để phát triển ngành CNHT [85]. - Công trình nghiên cứu “Multinational Enterprises and Technological Effort by Local Firms: A Case Study of the Malaysian Electronics and Electrical Industry” (Tập đoàn đa quốc gia và các nỗ lực công nghệ của doanh nghiệp địa phương: trường hợp nghiên cứu ngành công nghiệp điện và điện tử Malaysia), Noor, Halim, Clarke. Roger, Driffield và Nigel cho thấy vai trò của chính phủ trong công cuộc đổi mới, sáng tạo từ các nhà cung cấp nội địa trong ngành điện tử. - Cuốn sách: “Japanese - Affiliated Manufactures in Asia” (Các nhà sản xuất Nhật Bản tại Châu Á), được thực hiện bởi Tổ chức Xúc tiến Ngoại Thương Nhật Bản (JETRO), năm 2003, đã phân tích tình hình thuê ngoài và cung ứng các sản phẩm hỗ trợ cho các doanh nghiệp sản xuất và lắp ráp ô tô của Nhật Bản ở Châu Á (ASEAN và Ấn Độ).
Từ đó chỉ ra cơ hội thách thức mà các nhà sản xuất Nhật Bản tại Châu Á đang gặp phải nhằm đưa ra các giải pháp khắc phục [91]. - Công trình nghiên cứu “Survey on comparision of background, policy 10 measures and outcome for delelopment of supporting industries in ASEAN” (Khảo sát về so sánh nền tảng, các biện pháp chính sách và kết quả cho việc loại bỏ các ngành công nghiệp hỗ trợ trong ASEAN), năm 2011 của Goodwill Consultant JSC và Diễn đàn phát triển Việt Nam. Trong đó, các tác giả đã phân tích Malaysia và Thái Lan, là hai trong số các nước ASEAN đã có nhiều chương trình dành cho CNHT từ những năm 1980. Thông qua việc phân tích các vấn đề: bối cảnh; tổ chức chính sách; ảnh hưởng chính sách và kết quả đạt được.
Các tác giả đưa ra 07 vấn đề: Khủng hoảng - chất xúc tác; tác động qua lại giữa lợi ích quốc gia và lợi ích nước ngoài thời kỳ toàn cầu hóa; xúc tiến mở và xúc tiến bắt buộc; áp dụng có điều chỉnh; sự quan tâm đến xúc tiến CNHT; các biện pháp chính sách và việc tổ chức thực hiện. Các tác giả đưa ra những so sánh với Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu hiện trạng CNHT Việt Nam từ đó rút ra các bài học để phát triển CNHT [90]. Nhóm công trình nghiên cứu về chính sách và bài học phát triển công nghiệp hỗ trợ. - Công trình nghiên cứu: “Effects of the Crisis on the Automotive Industry in Developing Countries A Global Value Chain Perspective” (Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đối với ngành công nghiệp ô tô ở các nước đang phát triển Quan điểm về chuỗi giá trị toàn cầu) của tác giả T.
Biesebroeck, nghiên cứu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008-2009 đối với CN ô tô ở các nước đang phát triển xét trong chuỗi giá trị toàn cầu (GVCs). So sánh các con đường phát triển ô tô giữa ba nước Mexico, Trung Quốc và Ấn Độ, rút ra khuyến nghị chính sách cho sự phát triển ngành CN này là tăng cường nội địa hóa sản phẩm và hướng phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm ở trong nước [116]. - Công trình nghiên cứu: “Survey report on overseas business operation by Japanese manufacturing companies” (Báo cáo khảo sát các bộ phận ở nước ngoài của các công ty lắp ráp Nhật Bản) do Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) công bố năm 2004, đã chỉ ra rằng chi nhánh các tập đoàn Nhật Bản ở châu Á, đặc biệt là Thái Lan, Malaysia, Indonesia đã sử dụng hệ thống thầu phụ được hình thành với vai trò trợ giúp mạnh mẽ các doanh nghiệp sản xuất linh kiện có vốn đầu tư từ Nhật Bản.