CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Những công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến luận án Phát triển nông thôn nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng là một chủ đề nghiên cứu đã và đang thu hút được khá đông các học giả trong và ngoài nước nghiên cứu. Những quan điểm, kết quả nghiên cứu được công bố còn cho thấy những bất đồng khó được giải quyết và áp dụng đối với tất cả các quốc gia, thể hiện: Phương pháp luận, tiêu chí đánh giá hợp lý nào được áp dụng nhằm đo lường được một khu vực nông thôn rộng lớn và đa dạng trên toàn khu vực? Khái niệm phát triển kinh tế nông thôn có phải đơn thuần là khái niệm “Phát triển kinh tế” áp dụng vào khu vực nông thôn? hay trọng tâm của phát triển kinh tế khu vực nông thôn là gì? các chỉ số đánh giá phát triển kinh tế nông thôn có phải là thu nhập bình quân của các nông hộ, cấu trúc kinh tế nông thôn, năng suất lao động nông thôn, quy hoạch phát triển trang trại, cải thiện cơ sở hạ tầng?…Như vậy, để làm rõ được các nội dung đã được các học giả nghiên cứu, qua tổng quan tài liệu, tác giả nhóm các công trình tiêu biểu cụ thể theo các vấn đề sau: 1.Nghiên cứu lý luận về khu vực nông thôn và thành thị Trong cuốn “How special are rural areas? The economic implications of location for rural development”của tác giả Wiggins S, Proctor S (2001) [140] cho rằng cần phải phân biệt khu vực nông thôn, khu vực bán đô thị và khu vực đô thị, để từ đó xác định và làm rõ hơn những tương tác giữa các khu vực, giữa chính sách với các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp. Trong công trình “ Rural Definitions” của Kathy Miller (2002) [11] đã chỉ ra những nguyên nhân tại sao lại có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về “ nông thôn” tại Mỹ.
Những nguyên nhân này được nhìn nhận ở phạm vi khu vực hay thẩm quyền của chính quyền các bang cũng như là những dữ liệu về khu vực còn bị hạn chế. Theo đó, tác giả đã lập luận cho rằng khái niệm “nông thôn” và “đô thị” cần được xác định dựa vào các tiêu chí chính là mật độ dân số. Tiêu chí này cũng nên được làm chuẩn cho các cuộc điều tra khu vực nông thôn. Trong công trình nghiên cứu về phát triển nông thôn “Rural Development and Poverty Reduction: Is Agriculture Still the Key” Của tác giả Gustavo Anríquez 8 luan an và Kostas Stamoulis (2007) [94] cho thấy: Khái niệm nông thôn đã được các tác giả phân tích theo trục thời gian từ những thập kỷ 60 của thế kỷ trước để nhấn mạnh: Khu vực nông thôn là khu vực có đặc trưng mật độ dân số thấp, nghèo nàn, lạc hậu và chậm phát triển ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Với việc hình thành khái niệm này, tác giả đã đưa ra những luận điểm khẳng định: Phát triển nông thôn đã cải thiện cuộc sống cho người dân ở khu vực nông thôn, tạo ra sự phát triển bền vững, nâng cao mức sống và phúc lợi cho người dân khu vực nông thôn. Tại khu vực châu Âu, European Commision (2014) [83] cũng đã đưa ra quy định “khu vực nông thôn” là khu vực có mật độ dân số dưới 150 người trên mỗi km2. Việc đồng bộ và sử dụng khái niệm “khu vực nông thôn” theo một chuẩn chung chỉ rõ hơn về mức độ đô thị hóa trên toàn cầu. Song, cách thức làm thế nào để đồng bộ hóa khung lý thuyết về phát triển nông thôn, để khái niệm này có thể áp dụng chung cho cả các quốc gia phát triển và đang phát triển thì lại bắt buộc cần phải có những nghiên cứu sâu hơn, cũng như cách tiếp cận khác mới tìm ra được.
Nhìn nhận về sự phát triển khu vực nông thôn, tác giả Joop de Beer (2014) [109] cũng đã đưa ra quan điểm cho rằng: Quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh nhất tại một số khu vực châu Âu vào những năm của thập kỷ 50 và 60 và giảm xuống ở những thập kỷ gần đây. Mức độ đô thị hóa lại phụ thuộc vào cách phân loại của từng quốc gia. Do vậy, việc so sánh giữa các quốc gia ở vào các thời điểm đó là rất khó khăn. Khái niệm khu vực nông thôn tiếp tục được tác giả Camelia Burja, Vasile Burja (2014) [74 ] hoàn thiện hơn dựa vào số phần trăm dân số sống tại các khu vực để hình thành nên khu vực nông thôn, đô thị và khu vực bán đô thị.
Khái niệm này được sử dụng để làm cơ sở phân tích và đánh giá phát triển kinh tế nông thôn đối với khu vực nông thôn ở một số nước Đông Âu như Rumani và Ba Lan. Gần đây nhất, tác giả Gustavo Bastos BragaI và các cộng sự, (2016) [95] một lần nữa khẳng định khái niệm “khu vực nông thôn” đến nay vẫn là một khái niệm còn gây nhiều tranh cãi trong giới học giả, các nhà nghiên cứu. Do vậy, tác giả đã sự dụng pháp luận của OECD (2009) để đưa ra phương thức tiếp cận và định 9 luan an hình rõ hơn về khu vực nông thôn làm cơ sở để phân tích các hiện tượng phát triển kinh tế nông thôn. Tại Việt Nam, nhằm trang bị cho các sinh viên những nền tảng cơ bản về kiến thức về phát triển kinh tế nông thôn, một số các trường đại học như Đại học kinh tế quốc dân, Học viện Nông nghiệp đã xuất bản các giáo trình của tác giả Mai Thanh Cúc và Quyền Đình Hòa (2005) [10].
Theo khái niệm trong giáo trình thì khu vực nông thôn ở Việt Nam được xác định dựa trên một số tiêu chí cụ thể: Thành phần xã hội, các di sản văn hoá, sự phồn thịnh, sự phân hoá xã hội của dân cư… Sự khác nhau căn bản giữa khu vực nông thôn và đô thị được phản ánh rõ nét trong những nguyên lí của xã hội học nông thôn - đô thị. Bên cạnh đó, Tác giả Hoàng Việt (2013)[ 59 ] cũng cho rằng nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Nông thôn có thể được xem xét trên nhiều góc độ: Kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội.Nghiên cứu lý luận về kinh tế nông thôn. Ngay từ những năm đầu của thế kỷ 20 trong cuốn “ What is Rural Economics” của tác giả John Ise(1920) [108] đã cho rằng “kinh tế nông thôn” là chủ đề còn nhiều tranh cãi và được các học giả quốc tế nhìn nhận theo 03 cách.
Nhóm thứ nhất đại diện là Giáo sư Taylor of Wisconsin cho rằng kinh tế nông thôn không chỉ tập trung vào kinh tế nông nghiệp mà còn bao gồm cả kinh tế trang trại và quản lý trang trại để từ đó nhìn nhận các vấn đề về nông dân theo cả các góc độ xã hội. Nhóm thứ hai, đại diện là Giáo sư Carver lại cho rằng kinh tế nông thôn không bao gồm kinh tế trang trại; và nhóm thứ 3, cho rằng những gì thường được gọi là kinh tế nông thôn chỉ là kinh tế học đơn thuần với một số đặc trưng cho nông nghiệp. Trong công trình "Rural Non agricultural Activities in Development: Theory and Application” của tác giả Gustav Ranis và Frances Stewart (1993) [93] với việc phân tích vai trò của các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp, các tác giả đã khẳng định tầm quan trọng của các hoạt động này trong khu vực nông thôn, đây được xem là động lực tạo ra sự tăng trưởng khu vực nông thôn. Theo các tác giả nghiên cứu về phát triển kinh tế nông thôn cần phải làm rõ các hoạt động sản xuất nông nghiệp và 10 luan an phi nông nghiệp đóng góp như thế nào vào tăng trưởng kinh tế khu vực nông thôn hay quy mô và sự phân bổ không gian của các đơn vị sản xuất và hộ gia đình trong khu vực nông thôn sẽ tác động đến phát triển kinh tế nông thôn.
Với nhiều bằng chứng thực nghiệm, tác giả Emery N. Castle (2000) “The Economics of Rural places and Agricultural Economic [82] đã chỉ rõ sự khác biệt giữa kinh tế nông nghiệp, kinh tế nông thôn và kinh tế đô thị. Theo tác giả, hoạt động sản xuất nông nghiệp hiện đóng một vai trò trọng yếu trong khu vực nông thôn ở nhiều khu vực trên thế giới. Trong mối quan hệ giữa khu vực nông thôn và thành thị, cần phải xác định rõ về mối liên kết, những tác động, từ đó xác định được phát triển kinh tế nông thôn.
Trong cuốn “A New Rural Economy: A New Role for Public Policy”của các tác giả Mark Drabenstott và Jason Henderson (2006) [114] cũng cho thấy quá trình toàn cầu hóa đã tác động đến các hoạt động sản xuất kinh tế nông thôn, từ đó tạo ra những thay đổi lớn như làm gia tăng nguồn thu của các nông hộ, cải thiện các hoạt động sản xuất kinh doanh trong khu vực nông thôn, tạo ra sự tăng trưởng về kinh tế và khả năng tạo việc làm cao. Việc áp dụng các mô hình phát triển kinh tế mới với động lực đổi mới sáng tạo và kinh doanh sẽ là một thách thức lớn cho khu vực nông thôn. Theo tác giả Clack Edward (2011) [75] nền kinh tế khu vực nông thôn và đô thị có mối liên kết chặt chẽ với nhau. Do vậy, sự thay đổi tăng trưởng và phát triển của khu vực nông thôn sẽ tác động đến khu vực thành thị và ngược lại.
Sự phát triển mất cân đối giữa khu vực nông thôn và thành thị như thu nhập bình quân đầu người, cơ sở hạ tầng, hoạt động kinh doanh…vẫn đang còn là thách thức với các nhà hoạch định chính sách. Theo Guogang Wang (2015) “Spatio-Temporal Characteristics of Rural Economic Development in Eastern Coastal China” [96] thì phát triển kinh tế nông thôn là một nội dung quan trọng trong phát triển nông thôn (kinh tế, xã hội, môi trường và con người). Phát triển kinh tế được coi là yếu tố chính quyết định sự phát triển khu vực nông thôn. Cùng với đó, yếu tố về vị trí địa lý từng khu vực khác nhau cũng sẽ tác động đến sự phát triển kinh tế nông thôn khác nhau.
11 luan an Theo tác giả Daphne Meredith, et, al (2016) “Rural Economic Development in Canada with an Emphasis on the Western Canadian Landscape” [81] thì 03 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông thôn Canada là: Đô thị hóa, thay đổi cấu trúc nền kinh tế và đặc điểm của nhà nước phúc lợi.