Nghiên cứu thái độ người tiêu dùng đối với hàng hóa Hàn Quốc tại TP.HCM

Luận văn thạc sĩ phân tích nghiên cứu về thái độ của người tiêu dùng đối với hàng hóa có nguồn gốc xuất xứ từ hàn quốc tại, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp

Chuyên ngành

Kinh Doanh Thương Mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2017

107
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ THÁI ĐỘ NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI HÀNG HÓA DỰA TRÊN NGUỒN GỐC XUẤT XỨ

1.1. Cơ sở lý luận về sự tác động của nguồn gốc xuất xứ đến thái độ người tiêu dùng đối với hàng hóa

1.1.1. Khái niệm về thái độ của người tiêu dùng

1.1.2. Khái niệm về nguồn gốc xuất xứ hàng hóa

1.1.3. Lý luận về sự tác động của nguồn gốc xuất xứ đến thái độ người tiêu dùng đối với hàng hóa

1.1.4. Một số nghiên cứu trước đây về tác động của nguồn gốc xuất xứ đến thái độ của người tiêu dùng

1.1.5. Mô hình nghiên cứu thái độ của người tiêu dùng đối với hàng hóa dựa trên nguồn gốc xuất xứ

1.2. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ TIÊU DÙNG HÀNG HÓA CÓ NGUỒN GỐC XUẤT XỨ TỪ HÀN QUỐC VÀ KHẢO SÁT VỀ THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG

2.1. Thị trường tiêu dùng Việt Nam đối với hàng hóa xuất xứ từ Hàn Quốc

2.1.1. Tổng quan về thị trường tiêu dùng Việt Nam

2.1.2. Tổng quan về hàng hóa có xuất xứ Hàn Quốc tại thị trường Việt Nam

2.2. Tiến trình khảo sát về thái độ của người tiêu dùng Thành phố Hồ Chí Minh đối với hàng hóa có nguồn gốc xuất xứ từ Hàn Quốc

2.2.1. Phương pháp tiến hành nghiên cứu

2.2.2. Các tiêu chí khảo sát

2.2.3. Bảng câu hỏi

2.2.4. Mẫu nghiên cứu

2.2.5. Chuẩn bị dữ liệu và phân tích

2.3. Kết quả khảo sát về thái độ của người tiêu dùng đối với hàng hóa có xuất xứ Hàn Quốc

2.3.1. Các số liệu thống kê mô tả mẫu

2.3.2. Các số liệu thống kê mô tả về các tiêu chí nghiên cứu

2.3.3. Một số phát hiện trong nghiên cứu

2.4. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, HẠN CHẾ VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

3.1. Một số kiến nghị đối với doanh nghiệp và cơ quan hoạch định nhà nước

3.1.1. Đối với doanh nghiệp Việt Nam

3.1.2. Đối với cơ quan hoạch định nhà nước

3.2. Hạn chế của đề tài nghiên cứu

3.3. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC A

PHỤ LỤC B

Tóm tắt

I. Tổng quan về thái độ người tiêu dùng với hàng hóa Hàn Quốc

Thái độ của người tiêu dùng đối với hàng hóa Hàn Quốc đang trở thành một chủ đề nóng trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu. Hàn Quốc không chỉ nổi tiếng với các sản phẩm điện tử mà còn với mỹ phẩm, thực phẩm và nhiều mặt hàng khác. Sự ưa chuộng này không chỉ đến từ chất lượng sản phẩm mà còn từ hình ảnh thương hiệu mạnh mẽ mà Hàn Quốc đã xây dựng. Nghiên cứu cho thấy rằng người tiêu dùng Việt Nam có xu hướng đánh giá cao hàng hóa có nguồn gốc xuất xứ từ Hàn Quốc, điều này phản ánh sự tin tưởng vào chất lượng và giá trị của sản phẩm.

1.1. Khái niệm về thái độ người tiêu dùng

Thái độ người tiêu dùng được định nghĩa là xu hướng tâm lý của cá nhân đối với một sản phẩm cụ thể. Nó thể hiện qua sự yêu thích hoặc ghét bỏ, và ảnh hưởng đến quyết định mua sắm. Nghiên cứu cho thấy rằng thái độ tích cực đối với hàng hóa Hàn Quốc có thể dẫn đến việc tăng cường sự lựa chọn và tiêu dùng sản phẩm này.

1.2. Tầm quan trọng của nguồn gốc xuất xứ

Nguồn gốc xuất xứ (COO) đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thái độ của người tiêu dùng. Hàng hóa có nguồn gốc từ Hàn Quốc thường được xem là có chất lượng cao, điều này ảnh hưởng đến quyết định mua sắm của người tiêu dùng Việt Nam. Sự nhận thức này được xây dựng từ nhiều yếu tố như lịch sử, văn hóa và chất lượng sản phẩm.

II. Vấn đề và thách thức trong việc tiêu dùng hàng hóa Hàn Quốc

Mặc dù hàng hóa Hàn Quốc được ưa chuộng, nhưng vẫn tồn tại một số thách thức trong việc tiêu dùng. Một trong những vấn đề chính là sự cạnh tranh từ các sản phẩm nội địa và hàng hóa từ các quốc gia khác. Người tiêu dùng có thể gặp khó khăn trong việc phân biệt chất lượng giữa các sản phẩm. Ngoài ra, giá cả cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định mua sắm.

2.1. Sự cạnh tranh từ hàng hóa nội địa

Hàng hóa nội địa đang ngày càng được cải thiện về chất lượng và mẫu mã, tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ với hàng hóa Hàn Quốc. Người tiêu dùng có thể bị ảnh hưởng bởi giá cả và sự quen thuộc với sản phẩm nội địa, dẫn đến việc giảm sự ưa chuộng đối với hàng hóa Hàn Quốc.

2.2. Giá cả và chất lượng sản phẩm

Giá cả là một yếu tố quan trọng trong quyết định mua sắm. Hàng hóa Hàn Quốc thường có giá cao hơn so với hàng hóa nội địa. Điều này có thể khiến người tiêu dùng cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định mua. Chất lượng sản phẩm cũng cần được đảm bảo để duy trì lòng tin của người tiêu dùng.

III. Phương pháp nghiên cứu thái độ người tiêu dùng với hàng hóa Hàn Quốc

Để hiểu rõ hơn về thái độ của người tiêu dùng, nghiên cứu đã áp dụng các phương pháp định tính và định lượng. Phương pháp khảo sát được sử dụng để thu thập dữ liệu từ người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Các tiêu chí khảo sát bao gồm nhận thức về chất lượng, giá cả và sự ưa chuộng hàng hóa Hàn Quốc.

3.1. Phương pháp khảo sát định tính

Phương pháp khảo sát định tính giúp thu thập thông tin sâu sắc về thái độ và tâm lý của người tiêu dùng. Các cuộc phỏng vấn sâu và nhóm tập trung được thực hiện để hiểu rõ hơn về cảm nhận của người tiêu dùng đối với hàng hóa Hàn Quốc.

3.2. Phương pháp khảo sát định lượng

Phương pháp khảo sát định lượng sử dụng bảng hỏi để thu thập dữ liệu từ một mẫu lớn người tiêu dùng. Dữ liệu này được phân tích để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của người tiêu dùng đối với hàng hóa Hàn Quốc.

IV. Kết quả nghiên cứu về thái độ người tiêu dùng với hàng hóa Hàn Quốc

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng người tiêu dùng Việt Nam có thái độ tích cực đối với hàng hóa Hàn Quốc. Hầu hết người tiêu dùng đều đánh giá cao chất lượng và mẫu mã của sản phẩm. Tuy nhiên, vẫn có một số lo ngại về giá cả và sự cạnh tranh từ hàng hóa nội địa. Những phát hiện này cung cấp thông tin quý giá cho các doanh nghiệp trong việc phát triển chiến lược marketing.

4.1. Đánh giá chung về chất lượng hàng hóa Hàn Quốc

Người tiêu dùng đánh giá cao chất lượng hàng hóa Hàn Quốc, đặc biệt là trong lĩnh vực điện tử và mỹ phẩm. Sự tin tưởng vào chất lượng sản phẩm là yếu tố chính thúc đẩy sự tiêu dùng.

4.2. Ảnh hưởng của giá cả đến quyết định mua sắm

Giá cả là một yếu tố quan trọng trong quyết định mua sắm. Mặc dù hàng hóa Hàn Quốc có chất lượng cao, nhưng giá cả cao có thể làm giảm sự lựa chọn của người tiêu dùng. Do đó, các doanh nghiệp cần cân nhắc về chiến lược giá để thu hút khách hàng.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của hàng hóa Hàn Quốc tại Việt Nam

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy rằng hàng hóa Hàn Quốc có tiềm năng lớn tại thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, để duy trì và phát triển, các doanh nghiệp cần chú trọng đến chất lượng, giá cả và xây dựng hình ảnh thương hiệu mạnh mẽ. Tương lai của hàng hóa Hàn Quốc tại Việt Nam sẽ phụ thuộc vào khả năng thích ứng với nhu cầu và xu hướng tiêu dùng của thị trường.

5.1. Triển vọng phát triển hàng hóa Hàn Quốc

Hàng hóa Hàn Quốc có triển vọng phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam nhờ vào chất lượng và sự đa dạng. Các doanh nghiệp cần tiếp tục đầu tư vào nghiên cứu và phát triển để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.

5.2. Chiến lược marketing hiệu quả

Để thu hút người tiêu dùng, các doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược marketing hiệu quả, nhấn mạnh vào chất lượng và giá trị của sản phẩm. Việc tạo dựng hình ảnh thương hiệu tích cực sẽ giúp tăng cường lòng tin của người tiêu dùng.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu về thái độ của người tiêu dùng đối với hàng hóa có nguồn gốc xuất xứ từ hàn quốc tại thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Cơ sở lý luận và những nghiên cứu về thái độ người tiêu dùng đối với hàng hóa dựa trên nguồn gốc xuất xứ 1. Cơ sở lý luận về sự tác động của nguồn gốc xuất xứ đến thái độngười tiêu dùng đối với hàng hóa 1.Khái niệm về thái độ của người tiêu dùng Ngày nay, nghiên cứu về thái độ của người tiêu dùng đóng vai trò trung tâm trong nhiều lý thuyết và nghiên cứu hành vi người tiêu dùng (Ajzen, 2008). Tầm quan trọng của nghiên cứu về thái độ được nhiều nhà khoa học khẳng định rằng “nó không những quan trọng, mà còn là vấn đề thiết yếu” (Faris, 1928).

Một cách hiểu đơn giản về thái độ đó là xu hướng tâm lý của một con người thể hiện qua việc yêu thích hoặc ghét (Blackwell và cộng sự, 2001), hay một cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực đối với một chủ thể (Schlenker, 1978). Ajzen và Fishbein (1977), Peter và Olson (1999) đã bổ sung một ý nghĩa quan trọng đằng sau “thái độ” của con người bằng việc định nghĩa khái niệm này là sự đánh giá tổng quát của con người đối với một khái niệm nào đó. Những nghiên cứu gần đây của Ajzen (2008) đã khẳng định sự đánh giá là mấu chốt quan trọng đối với hành vi của một cá nhân. Như vậy, thái độ người tiêu dùng đếnhàng hóa được thể hiện thông qua việc đánh giá một hàng hóa cụ thể với một số các mức độ như: hàng hóa có giá trị hay hàng hóa không có giá trị; hàng hóa có tầm quan trọng hay hàng hóa không quan trọng; hài lòng với hàng hóa hay không hài lòng.

Vì vậy, để nghiên cứu về thái độ của hàng hóa đến đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là hàng hóa có nguồn gốc xuất xứ từ Hàn Quốc, chúng ta cần thu thập những đánh giá của người tiêu dùng về các tiêu chí của hàng hóa đó, từ đó phát hiện ra những tâm lý tích cực hoặc tiêu cực của người tiêu dùng. Khái niệm về nguồn gốc xuất xứ hàng hóa Nguồn gốc xuất xứ hàng hóa là một khái niệm có tính tương đối, chúng ta có thể định nghĩa nguồn gốc xuất xứ (COO) đơn giản là “thông tin liên quan đến nơi sản phẩm được sản xuất” (Zhang, 1996), thường được thể hiện và truyền đạt bằng câu “Xuất xứ” (Made in) kèm theo tên quốc gia nơi sản xuất sản phẩm (Amine et al, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tuy nhiên, việc xác định rõ nguồn gốc xuất xứ của một sản phẩm trở nên ngày càng phức tạp bởi quá trình toàn cầu hóa về các yếu tố đầu vào và quá trình sản xuất của nhiều loại sản phẩm có nguồn gốc từ hai hay nhiều xuất xứ khác nhau. Ví dụ như sản phẩm ô tô của Hàn Quốc được lắp ráp tại Việt Nam, nhưng có các linh kiện máy móc và các bộ phận được sản xuất tại Hàn Quốc.

Theo Luật Thương mại Việt Nam 2015 cũng có định nghĩa về xuất xứ hàng hóa, theo Điều 3, khoản 14: “Xuất xứ hàng hóa là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cuối cùng đối với hàng hóa trong trường hợp có nhiều nước hay vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất hàng hóa đó.” Nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa về kinh tế, cũng như việc Việt Nam tham gia ngày càng nhiều vào các tổ chức kinh tế và ký kết các hiệp định song phương và đa phương với các quốc gia trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Với việc Việt Nam đã ký kết 16 FTA tính đến hết năm 2016 2, cho thấy mối quan hệ về kinh tế giữa Việt Nam và các quốc gia ngày càng mở rộng, với những chính sách ưu đãi về thuế quan được hưởng, vấn đề về nguồn gốc xuất xứ hàng hóa là cơ sở để các quốc gia xác định ưu đãi cho các sản phẩm đến từ Việt Nam. Do đó, nguồn gốc xuất xứ hàng hóa có vai trò quan trọng giúp cho sản phẩm đến từ Việt Nam có thể xâm nhập thị trường và nâng cao sức cạnh tranh so với các quốc gia không được hưởng ưu đãi. Xuất xứ hàng hóa còn là yếu tố thể hiện được chất lượng, uy tín sản phẩm của một quốc gia trong mắt người tiêu dùng, vì vậy, đây cũng là yếu tố giúp cho hàng hóa dễ dàng xâm nhập vào thị trường mới nếu được các doanh nghiệp tận dụng tốt.

Đó cũng là vấn đề mà tác giả muốn làm rõ trong đề tài này. Lý luận về sự tác động của nguồn gốc xuất xứ đến thái độ người tiêu dùng đối với hàng hóa Những nghiên cứu về nguồn gốc xuất xứ đã được thực hiện từ lâu tại nhiều nước trên thế giới, một trong những nghiên cứu đầu tiên bắt nguồn từ thập kỷ 60 2 Theo Trung tâm WTO Việt Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 của thế kỷ 19, hiện tượng tác động của nguồn gốc xuất xứ đã được Nagashima (1970) khái niệm hóa. Cụ thể, Nagashima đã kết luận rằng người tiêu dùng liên kết nguồn gốc xuất xứ thông qua “hình ảnh, danh tiếng, và định kiến mà những doanh nhân và những người tiêu dùng nghĩ về những sản phẩm của một quốc gia cụ thể. Những ý niệm này được hình thành bởi nhiều yếu tố như những sản phẩm tiêu biểu, những đặc điểm, nền kinh tế và chính trị, lịch sử và những nét văn hóa của quốc gia.

Kể từ đó, nhiều nghiên cứu tiếp theo đã được thực hiện để bổ sung vào lý luận tác động của nguồn gốc xuất xứ. Nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm hay dịch vụ cũng có tác động đến người tiêu dùng như bất kỳ sự ảnh hưởng nào khác. Nguồn gốc của sự tác động cũng có sự khác biệt “một số người dựa trên những trải nghiệm đối với sản phẩm, số khác dựa trên kinh nghiệm bản thân (thông qua du lịch và du học); sự hiểu biết về quốc gia đó, quan điểm chính trị, khuynh hướng vị chủng, …” (Samiee, 1994). Những nghiên cứu đầu tiên về tác động của nguồn gốc xuất xứ, trong đó nguồn gốc xuất xứ được xem là một tín hiệu thông tin đơn hướng, đã phát hiện ra tác động đáng kể trong việc đánh giá các sản phẩm (Schooler, 1965; Nagashima,1970).

Những nghiên cứu về COO chủ yếu sử dụng COO như là một tín hiệu được dùng cho việc suy luận về những đặc tính không thể quan sát được của sản phẩm như là chất lượng (Wall et al. Khi COO chỉ là một dấu hiệu giữa sự xem xét các dấu hiệu khác (như giá cả hay uy tín,.), tác động của nó đối với thái độ của người tiêu dùng có sự suy giảm (Johansson và cộng sự, 1985; Agrawal và Kamakura, 1999). Một số lý luận cho rằng, trong trường hợp sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ phức hợp, khi nhiều thông tin về nguồn gốc xuất xứ được gắn vào một sản phẩm, người tiêu dùng thiên về việc sử dụng sự nhận biết về nguồn gốc thương hiệu của một quốc gia cũng như quốc gia sản xuất sản phẩm có cùng nguồn gốc với thương hiệu đó như một dấu hiệu để phân biệt chất lượng sản phẩm (Han and Terpstra, 1988). Những nghiên cứu sau đó phát hiện ra rằng quốc gia sản xuất ra sản phẩm có ảnh hưởng lớn so với nguồn gốc quốc gia của nhãn hiệu trong quá trình đánh giá TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 của người tiêu dùng (Han và Terpstra, 1988; Tse và Gorn, 1993).

Mới đây, một số nghiên cứu đã phát hiện ra điều đối nghịch với các nghiên cứu trước khi cho rằng nguồn gốc quốc gia của nhãn hiệu có tác động chính yếu đến việc đánh giá sản phẩm (Hui và Zhou, 2003; Srinivasan và cộng sự, 2004). Điều này cho thấy rằng, đối với một sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ từ nhiều quốc gia, thì nguồn gốc xuất xứ vẫn có tác động đến việc đánh giá của người tiêu dùng đối với sản phẩm, dù mức độ tác động thế nào thì vẫn còn nhiều tranh cãi. Tác động của COO trong việc đánh giá các chủng loại sản phẩm khác nhau là không như nhau. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng COO tác động đến quá trình đánh giá có sự khác biệt giữa các chủng loại sản phẩm (Roth và Romeo, 1992).

Điển hình như, sản phẩm điện tử Nhật Bản được đánh giá cao hơn về chất lượng so với hàng hóa thực phẩm (Kaynak và Cavusgil, 1983). Ngoài ra, những sản phẩm nước hoa với tên nhãn hiệu bằng tiếng Pháp sẽ được người tiêu dùng cảm thấy thỏa mãn hơn so với các sản phẩm thiếu đặc điểm này. Bằng cách so sánh giữa các quốc gia tiêu dùng với nhau, một số nghiên cứu cũng cho rằng tác động của COO cũng có sự khác biệt giữa các quốc gia tiêu thụ sản phẩm (Narayana,1981; Heslop và Papadopoulos, 1993), điều này có thể xuất phát từ khác biệt về văn hóa giữa các quốc gia. Tác động của COO còn được nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng có sự thay đổi dựa trên mức độ hiểu biết của người tiêu dùng đối với danh mục sản phẩm (Eroglu và Machleit, 1989).

Cụ thể, khi người tiêu dùng không quen thuộc với một dòng sản phẩm của một quốc gia, thì quan niệm của người tiêu dùng về quốc gia đó sẽ đóng vai trò là một hiệu ứng lan tỏa (halo) cho phép người tiêu dùng có thể đánh giá bất kỳ sản phẩm mới nào thuộc về quốc gia đó. Dấu hiệu về COO thường được sử dụng để nhanh chóng đánh giá sản phẩm, tuy nhiên, tác động này có thể có sự khác biệt tùy thuộc vào mức độ tham gia của người tiêu dùng. Khi sự tham gia của người tiêu dùng cao, họ sẽ có động lực trong việc thu thập thông tin, từ đó dẫn đến quá trình phân tích, làm giảm đi việc sử dụng COO theo cảm tính trong quá trình đánh giá sản phẩm. Do đó, tác động của COO sẽ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 giảm khi sự tham gia của người tiêu dùng cao (Gurhan-Canli và Maheswaran; 2000).

Một trong những biến số được nghiên cứu nhiều nhất điều chỉnh tác động của COO đó là mức độ hành vi vị chủng của người tiêu dùng (Shimp và Sharma, 1987), hay là sự gắn bó mật thiết của người tiêu dùng với yếu tố văn hóa của mình mà đánh giá bất công hoặc sai lệch một nền văn hóa khác. Đối với những người tiêu dùng có mức độ hành vi vị chủng cao, COO có tác động tương đối lớn đến thái độ đánh giá sản phẩm, ý định mua và cả sự sẵn sàng mua hàng hóa ngoại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ