CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Thái độ đối với nghề nghiệp trong lĩnh vực khách sạn 1.1 Khái niệm thái độ Mặc dù có lịch sử nghiên cứu lâu dài nhưng không có sự thống nhất trong việc đưa ra khái niệm về thái độ. Zanna và Rempel (1988) đã đưa ra khái niệm “Thái độ là sự phân loại đối tượng kích thích theo một chiều đánh giá dựa trên thông tin về nhận thức, cảm xúc và/hoặc liên quan đến các xu hướng hành vi hoặc hành vi trong quá khứ” (Zanna và Rempel, 1988). Qua khái niệm của Zanna và Rempel có thể thấy, thái độ được cấu thành bởi yếu tố về nhận thức, cảm xúc và có thể thêm yếu tố về xu hướng hành vi. Eagly và Chaiken (1992) cho rằng “Thái độ là xu hướng tâm lý được thể hiện bằng cách đánh giá một đối tượng cụ thể với một số mức độ ưu thích hoặc không ưu thích”.
Ở khái niệm này, Eagly và Chaiken nhấn mạnh vào yếu tố cảm xúc của thái độ mà chưa chỉ rõ các yếu tố cấu thành nên thái độ của một cá nhân. Arnold và cộng sự (1995) chỉ ra rằng “Thái độ phản ánh xu hướng của một cá nhân đối với cảm nhận, suy nghĩ hoặc hành xử theo cách tích cực hoặc tiêu cực đối với đối tượng của thái độ”. Khái niệm này cho thấy, thái độ được biểu hiện qua phản ánh mang tính chất tiêu cực hoặc tích cực trong suy nghĩ hoặc hành xử đối với một đối tượng cụ thể. Tuy vậy, khái niệm này chưa phân biệt rõ thái độ của một cá nhân sẽ bao gồm hay không bao gồm yếu tố về hành vi.
Kind và cộng sự (2007) đã đưa ra khái niệm “Thái độ là niềm tin và cảm xúc cá nhân hướng tới một đối tượng”. Trong định nghĩa này, yếu tố về nhận thức không được đề cập tới, thái độ chỉ được cấu thành bởi niềm tin và cảm xúc của cá nhân. Barmby và cộng sự (2008) cho rằng “Thái độ là những cảm xúc của một người về đối tượng, dựa trên kiến thức và niềm tin của họ về đối tượng đó” (Barmby và cộng sự, 2008). Khái niệm này nhấn mạnh vào yếu tố cảm xúc của thái độ dựa trên những hiểu biết của mỗi người về đối tượng của thái độ.
Như vậy, theo định nghĩa này, yếu tố về nhận thức (kiến thức và niềm tin) không là thành phần cấu thành nên thái độ mà là yếu tố có trước, quyết định thái độ ở sau. Kotler và cộng sự (2018) đã đưa ra khái niệm “Thái độ là những đánh giá, cảm xúc và khuynh hướng ưa thích hoặc không ưa thích của một cá nhân đối với một đối tượng hoặc ý tưởng cụ thể”. Theo định nghĩa này, thái độ sẽ bao gồm 3 thành phần: đánh giá hay nhận thức, cảm xúc và khuynh hướng đối với một đối tượng cụ thể. 9 Qua các khái niệm trên cho thấy, mỗi nhà nghiên cứu có cách tiếp cận khác nhau về thái độ.
Từ các định nghĩa và khái niệm về thái độ của các nghiên cứu trước, có thể hiểu Thái độ là một cấu tạo tâm lý có ý thức và mang bản chất xã hội, là sự đánh giá của mỗi cá nhân, có sự lâu dài và ổn định, thể hiện sự sẵn sàng phản ứng theo khuynh hướng nhất định đối với một đối tượng cụ thể nào đó, được thực hiện thông qua nhận thức, cảm xúc và xu hướng thực hiện hành vi trong một tình huống cụ thể. Cấu trúc của thái độ bao hàm các mặt nhận thức, cảm xúc và/hoặc xu hướng hành vi (Ajzen, 2001; Crano & Prislin, 2006; Reid, 2006), cụ thể như sau: Nhận thức: yếu tố nhận thức bao gồm những quan điểm, kiến thức, hiểu biết, sự đánh giá của cá nhân về đối tượng nhất định. Cảm xúc: yếu tố cảm xúc là cảm nhận của một người về một đối tượng nhất định, bao gồm việc thích hay không thích đối tượng của thái độ, có liên quan đến việc cảm thấy thỏa mãn hay cảm thấy không thỏa mãn những nhu cầu tinh thần hay vật chất của mỗi cá nhân. Xu hướng thực hiện hành vi: yếu tố xu hướng thực hiện hành vi là những biểu hiện ra bên ngoài hay nói cách khác là xu hướng hành động của cá nhân đối với đối tượng của thái độ.
Mặc dù nhiều nghiên cứu chỉ ra cấu trúc của thái độ gồm ba thành phần tuy nhiên các nhà nghiên cứu có sự nhìn nhận và quan điểm khác nhau đối với mối quan hệ giữa ba thành phần trong cấu trúc của thái độ. Quan điểm thứ nhất cho rằng, ba thành phần của thái độ là riêng biệt. Đây là quan điểm cho rằng ba thành phần cấu thành thái độ bao gồm: nhận thức, cảm xúc và xu hướng thực hiện hành vi được thể hiện một cách riêng biệt, có thể không liên quan đến nhau. Quan điểm thứ hai cho rằng, ba thành phần trong cấu trúc của thái độ là thống nhất: Quan điểm cho rằng ba thành nhận thức, cảm xúc và xu hướng thực hiện hành vi được thể hiện mang tính thống nhất cao và không có sự tách biệt rõ ràng.
Đại diện cho quan điểm thứ hai này là nhà tâm lý học MJ. Qua việc tìm hiểu và nghiên cứu các quan điểm, nhận thức về quan hệ giữa các thành phần về nhận thức, cảm xúc và xu hướng thực hiện hành vi trong cấu trúc của thái độ, tác giả nghiên cứu về thái độ trên quan điểm cho rằng quan điểm ba thành phần thống nhất bởi trên thực tế, khó có thể tách biệt được các khía cạnh khác nhau của thái độ.2 Khái niệm nghề nghiệp Hoạt động nghề nghiệp là một hoạt động lao động đặc trưng của con người. Nghề nghiệp là một phạm trù mang tính chất xã hội - lịch sử. Nó xuất hiện khi có sự phân 10 công lao động trong xã hội.
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, sự phân lao động ngày càng đa dạng. Tuy vậy, sự phát triển của các ngành nghề trong xã hội phụ thuộc vào sự phát triển của từng quốc gia. Nhiều nhà nghiên cứu khác nhau đã đưa ra các khái niệm về nghề nghiệp. Riley và Ladkin (1994) cho rằng “Nghề nghiệp là tập hợp các công việc có liên quan đến nhau qua thời gian”.
Theo khái niệm này, Rilay và Ladkin (1994) chỉ ra rằng, một người nếu làm các công việc có liên quan đến nhau thì người đó có nghề nghiệp trong một lĩnh vực cụ thể. Tuy nhiên, định nghĩa này chưa nêu rõ là tập hợp công việc theo chiều ngang hay dọc, nói một cách khác là tập hợp các công việc khác nhau trong cùng một lĩnh vực hay tập hợp các vị trí khác nhau trong nấc thang thăng tiến ở lĩnh vực đó. Sullivan and Baruch’s (2009) đưa ra khái niệm: “Nghề nghiệp bao gồm tập hợp các công việc của một cá nhân và những trải nghiệm khác có liên quan đến công việc ở cả bên trong và bên ngoài tổ chức”. Định nghĩa của Sullivian và Baruch’s có điểm khác biệt so với định nghĩa của Riley và Ladkin (1994).
Sự khác biệt được nhắc đến là những trải nghiệm có liên quan đến công việc ở cả bên trong và bên ngoài tổ chức. Như vậy, nghề nghiệp không chỉ đơn thuần là tập hợp các công việc mà còn là sự trải nghiệm trên các khía cạnh khác nhau liên quan đến công việc của một cá nhân. Richardson & Butler (2012) trong nghiên cứu của mình đã cho rằng “Nghề nghiệp là chuỗi kinh nghiệm và trải nghiệm của mỗi cá nhân theo thời gian”. Theo định nghĩa này, nghề nghiệp bao gồm chuỗi kinh nghiệm và trải nghiệm của mỗi cá nhân theo thời gian, tuy nhiên, trong định nghĩa không chỉ rõ, các kinh nghiệm và trải nghiệm này có thuộc cùng một lĩnh vực hay không.
Thái Thị Khánh Chi, 2007 cho rằng “Nghề nghiệp là một dạng xác định của hoạt động lao động với những yêu cầu về kiến thức và kỹ năng phù hợp đòi hỏi ở người lao động, để có khả năng thực hiện phải qua đào tạo hoặc tích lũy trong công tác”. Định nghĩa này cho thấy, nghề nghiệp là một hoạt động lao động gắn với yêu cầu về kiến thức và kỹ năng cụ thể. Tuy vậy, khái niệm này không nói rõ rằng, các kiến thức và kỹ năng phù hợp có yêu cầu trong một lĩnh vực cụ thể hay không. Trong nghiên cứu của mình, Dương Hải Lâm (2012) đã định nghĩa “Nghề nghiệp là một thuật ngữ dùng để chỉ một hình thức lao động trong xã hội theo sự phân công lao động mà con người sử dụng sức lao động của mình để tạo ra sản phẩm vật chất, tinh thần đóng góp cho xã hội.
Qua hoạt động nghề nghiệp mà duy trì, phát triển đời sống cá nhân. Định nghĩa do Dương Hải Lâm có nét tương đồng so với định nghĩa được tác giả Thái Thị Khánh Chi đưa ra. Nhưng định nghĩa này có 11 làm rõ thêm khía cạnh thông qua hoạt động nghề nghiệp để duy trì, phát triển đời sống của một cá nhân. Như vậy, qua các khái niệm được các nhà nghiên cứu đưa ra, có thể hiểu “Nghề nghiệp trong lĩnh vực khách sạn là tập hợp các công việc của một cá nhân trong lĩnh vực khách sạn và những trải nghiệm khác có liên quan đến công việc ở cả bên trong và bên ngoài môi trường làm việc.
Qua hoạt động nghề nghiệp mà duy trì, phát triển đời sống cá nhân”. Lĩnh vực khách sạn bao gồm các dịch vụ lưu trú, ăn uống và giải trí liên quan đến hoạt động du lịch (Barrows & Bosselman, 1999).3 Khái niệm thái độ nghề nghiệp trong lĩnh vực khách sạn TĐNN là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, đặc biệt là các nhà nghiên cứu phương Tây. Thái độ được coi yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến hành vi của một cá nhân (Ajzen, 1993). TĐNN có tác động lớn đến tiến trình hành vi trong quá trình lựa chọn nghề nghiệp cũng như ảnh hưởng đến khả năng thành công và sự hài lòng đối với công việc của người lao động (De Vos & Soens, 2008).
Trong nghiên cứu về TĐNN trong lĩnh vực du lịch của sinh viên tại Thổ Nhĩ kỳ, Kusluvan và Kusluvan (2000) đã đưa ra khái niệm “Thái độ đối với nghề nghiệp trong ngành du lịch là tổng hòa của các yếu tố nhận thức, cảm xúc và/hoặc xu hướng hành vi về các khía cạnh của công việc trong ngành du lịch cũng như các ý định làm việc hoặc cam kết với ngành” (Kusluvan & Kusluvan, 2000). Đây cũng là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu sau này, như trong các nghiên cứu của Richardson (2008, 2009, 2010, 2012), nghiên cứu của Wang (2014), nghiên cứu của Wen (2018)… về TĐNN trong lĩnh vực khách sạn.