Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nƣớc về tạo việc làm cho thanh niên. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn tỉnh Lào Cai, từ năm 2010 đến nay. Chương 3: Định hƣớng và giải pháp tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc về tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn tỉnh Lào Cai. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN 1.
Các khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm việc làm Việc làm là vấn đề đƣợc nghiên cứu và đề cập dƣới nhiều khía cạnh khác nhau. Cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm về việc làm cũng đƣợc nhìn nhận một cách khoa học, đầy đủ và đúng đắn hơn. Tại hội nghị Quốc Tế lần thứ 13 của các nhà thống kê lao động của tổ chức lao động quốc tế (ILO) năm 1982 đƣợc tổ chức tại Gionever – Thủy Sỹ đã đƣa ra khái niệm việc làm nhƣ sau: “ Việc làm là hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, có thu nhập vằng tiền hoặc hiện vật.
Những ngƣời có việc làm là những ngƣời làm một việc gì đó, có đƣợc trả tiền công, lợi nhuận hoặc những ngƣời tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận đƣợc tiền công hay hiện vật”. Ở Việt Nam, quan niệm về việc làm đƣợc quy định trong Bộ luật lao động sửa đổi bổ sung năm 2012. Tại Điều 9, Chƣơng II chỉ rõ: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Nhƣ vậy, việc làm đƣợc hiểu đầy đủ nhƣ sau: “Việc làm là hoạt động lao động của con ngƣời nhằm mục đích tạo ra thu nhập đối với cá nhân, gia đình hoặc cho toàn xã hội, các hoạt động này không bị pháp luật cấm”.
Nội dung của việc làm rất mở rộng và cho thấy khả năng to lớn để giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc làm cho nhiều ngƣời. ngƣời lao động đƣợc tự do hành nghề, tự do liên doanh, liên kết sản xuất kinh doanh; tự do thuê mƣớn lao động theo quy định của pháp luật nếu có nhu cầu. Đồng thời qua đây cho thấy, việc làm là một phạm trù lịch sử, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trong các giai đoạn phát triển khác nhau. Việc mở rộng hay 8 thu hẹp việc làm, phát huy hay kìm hãm năng lực tạo việc làm phụ thuộc yếu tố kinh tế - chính trị - xã hội của quốc gia, địa phƣơng hay doanh nghiệp.
Khái niệm thanh niên Khái niệm thanh niên đƣợc quy định trong điều 1, luật thanh niên năm 2005 là: “Thanh niên quy định trong luật này là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi”.1] Thanh niên đƣợc nhìn nhận dƣới góc độ triết học về con ngƣời.Ăng-ghen, con ngƣời là một thực thể xã hội, mang bản chất xã hội, đồng thời là một thực thể tự nhiên, một cấu trúc sinh học. Do đó, để đƣa con ngƣời từng bƣớc vƣơn tới sự hoàn thiện, cần đồng thời khám phá sự tác động của các quy luật xã hội và các quy luật tự nhiên trong nó. Mức độ giải phóng con ngƣời không chỉ tùy thuộc vào kết quả của công cuộc cải tạo các mối quan hệ xã hội để mỗi con ngƣời đƣợc sống trong môi trƣờng xã hội tốt đẹp, giàu tình ngƣời mà còn tùy thuộc vào kết quả của sự phát triển lực lƣợng sản xuất, đẩy nhanh tốc độ tăng trƣởng kinh tế để mức sống vật chất của con ngƣời ngày càng nâng cao. Khi đề cập đến mặt tự nhiên và mặt xã hội của con ngƣời.Ăng-ghen cho rằng, mặt tự nhiên và mặt xã hội trong con ngƣời không tách rời, đối lập nhau, ngƣợc lại hai mặt đó thống nhất biện chứng và tác động qua lại lẫn nhau.
Khi chịu sự tác động của các mặt xã hội, thì mặt tự nhiên trong con ngƣời đƣợc nâng lên trên trình độ các động vật khác. Chính vì thế, khác với quan niệm từ chỗ chỉ coi con ngƣời là một loài động vật giống nhƣ mọi loài động vật khác đến chỗ bênh vực cho những hành vi thú tính của những kẻ đã mất tình ngƣời, C.Mác quan niệm: Con ngƣời là một thực thể tự nhiên loại đặc biệt, Một thực thể tự nhiên đã nhân loại hóa.Ăng-ghen khẳng định chỉ trong xã hội, tồn tại tự nhiên của con ngƣời mới tồn tại có tính chất ngƣời.Mác viết: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngƣời là tổng hòa những quan hệ xã hội” [5, tr. Con ngƣời nhờ có lao động sản xuất để tạo ra tƣ liệu sinh hoạt nhằm duy trì sự tồn tại của mình và xã hội, nhờ đó con ngƣời đƣợc giải phóng khỏi tự nhiên, tách khỏi loài vật và xây dựng cho mình một môi 9 trƣờng xã hội. Đây là điểm để phân biệt con ngƣời với động vật, hay có thể nói chính lao động đã sáng tạo ra bản thân con ngƣời.Mác khẳng định: "Có thể phân biệt con ngƣời với súc vật bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bất cứ cái gì cũng đƣợc.
Bản thân con ngƣời bắt đầu bằng tự phân biệt với súc vật ngày khi con ngƣời bắt đầu sản xuất ra những tƣ liệu sinh hoạt của mình, nhƣ thế con ngƣời đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình”. Nhƣ vậy bản chất con ngƣời chỉ có thể đƣợc hình thành, đƣợc nhận thức thông qua các quan hệ xã hội của nó. Khi nói bản chất con ngƣời là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, nghĩa là tất cả các quan hệ xã hội vật chất, tinh thần đều góp phần vào việc hình thành bản chất con ngƣời chứ không riêng một quan hệ nào. Trong đó quan hệ sản xuất đóng vai trò quyết định nhất.
Tất nhiên khi đề cập đến vấn đề này chúng ta phải thấy mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa môi trƣờng xã hội với con ngƣời và ngƣợc lại, đây là mối quan hệ nhân quả có mối liên hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau. Trong mối quan hệ này C.Mác cho rằng "Bản thân xã hội sản xuất ra con ngƣời với tính cách là con ngƣời nhƣ thế nào thì nó cũng sản xuất ra xã hội nhƣ thế" [5, tr. - Xét về quy mô và phạm vi đối tƣợng, con ngƣời là tổng thể của: Cá nhân, gia đình, tập thể, tổ chức, cộng đồng, dân tộc, nhân loại. Từ các phân tích trên đây về con ngƣời, trong đó có con ngƣời thanh niên có thể khẳng định: Thanh niên là một phạm khái niệm, dùng để chỉ những ngƣời ở độ tuổi nhất định; là một thực thể tự nhiên và một tồn tại xã hội, là một giai đoạn phát triển nhất định của cuộc đời con ngƣời với những đặc trƣng riêng về các đặc điểm tâm lý, sinh lý và sự phát triển nhận thức ở trình độ nhất định.
Điều đó có nghĩa là trong con ngƣời thanh niên có con ngƣời tự nhiên và con ngƣời xã hội. Nhìn nhận về con ngƣời tự nhiên của thanh niên chủ yếu qua phân tích độ tuổi, đặc điểm sinh lý, tâm lý. Con ngƣời xã hội của thanh niên nhìn nhận qua sự chín muồi và trƣởng thành về nhận thức xã hội cũng nhƣ ý thức trách nhiệm công dân đối với xã hội. Con ngƣời thanh niên là một giai đoạn phát triển của con ngƣời trong cả đời ngƣời; là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em sang 10 giai đoạn trƣởng thành, từ cuộc sống phụ thuộc sang cuộc sống dần tự lập và tự lập, từ tƣ duy bắt chƣớc là chính sang tƣ duy độc lập, sáng tạo.
Con ngƣời thanh niên ví nhƣ trung bình cộng của con ngƣời trẻ em và con ngƣời đã trƣởng thành, trong đó giai đoạn đầu của thanh niên là giai đoạn khám phá tự nhiên, xã hội, giai đoạn dần tự lập, giai đoạn sau của thanh niên là giai đoạn tự lập và sáng tạo, ngƣời thanh niên làm chủ bản thân mình, từ kinh tế đến hành vi xã hội. Việc chia giai đoạn trong cuộc đời thanh niên chỉ là tƣơng đối, ƣớc chừng từ tuổi 16 đến tuổi 24 cho giai đoạn 1 và từ tuổi 25 đến tuổi 30 cho giai đoạn 2. Thanh niên đƣợc nhìn nhận dƣới góc độ tuổi: Trong mỗi giai đoạn phát triển, cơ thể con ngƣời là một chỉnh thể hài hòa với những đặc điểm vốn có đối với giai đoạn tuổi đó, chứa đựng cả những truyền thống của giai đoạn trƣớc và những mầm mống của giai đoạn sau. Nhƣ vậy, mỗi lứa tuổi là một hệ thống của sự phát triển, ở đó vết tích của giai đoạn trƣớc dần bị xóa bỏ, cái hiện tại và tƣơng lai đƣợc hình thành và phát triển, rồi sau đó, cái hiện tại lại trở thành cái quá khứ, mầm mống của cái tƣơng lai lại trở thành cái hiện tại, những mầm mống mới lại nảy sinh.
Sự phát triển đó là không ngừng, không nghỉ và sự chuyển tiếp từ giai đoạn này sang giai đoạn tiếp theo có giới hạn thời gian hẹp cùng với những đặc trƣng dần hình thành và ngày càng rõ nét. Chính vì vậy, mọi sự phân chia đều mang tính tƣơng đối. Vì không thể phân chia ranh giới các giai đoạn phát triển của con ngƣời một cách triệt để, giữa các giai đoạn còn có những thời kỳ quá độ, hơn nữa, những biến đổi về hình thái và sinh lý của cơ thể con ngƣời xảy ra ngay cả trong giới hạn của cùng một giai đoạn tuổi. Các mức độ phát triển của con ngƣời có thể phân loại theo nhiều cung tuổi khác nhau, trong đó cách phân loại phổ biến nhất là phân loại theo tuổi thời gian, theo tháng và năm hoặc năm.
Theo cách này, tuổi đƣợc căn cứ theo ngày, tháng, năm sinh và tuổi ngày ngày càng tăng trong suốt cuộc đời. Tuổi thanh niên tính theo thời gian thƣờng đƣợc tính từ 15 đến 30. Trƣớc và sau cung độ tuổi này, ở mỗi con ngƣời đều có những đặc điểm hay biểu hiện của sự chuyển 11 đổi giai đoạn. Và những thay đổi đó có thể đƣợc xác định qua tuổi sinh học, tuổi tâm lý, xã hội.
Tuổi sinh học của một cá nhân cho phép ta nhận biết quá trình phát triển, tiến bộ của cá nhân đó trên con đƣờng trƣởng thành.