phần mở đầu, kết luận, các phụ lục khác thì bài luận văn này đƣợc kết cấu với 03 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực lao động trong doanh nghiệp; Chƣơng 2: Đánh giá thực trạng động lực lao động tại Công ty TNHH HHG Holdings; Chương 3: Giải pháp tạo động lực lao động tại Công ty TNHH HHG Holdings. 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản ❖ Nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu Nhu cầu là một hiện tƣợng tâm lý của con ngƣời; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con ngƣời về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trƣờng sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi ngƣời có những nhu cầu khác nhau.
Theo định nghĩa của Bùi Thị Xuân Mai (2011) trong “Bài giảng môn Tâm lý xã hội học lao động”: Nhu cầu là những đòi hỏi của cá nhân để tồn tại và phát triển, nhu cầu thƣờng là những đòi hỏi đi từ thấp tới cao, nhu cầu có tính phong phú, đa dạng, thay đổi theo bối cảnh (cá nhân và xã hội.) [14] Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con ngƣời cảm nhận đƣợc. Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con ngƣời hoạt động. Về mặt quản lý, kiểm soát đƣợc nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát đƣợc cá nhân (trong trƣờng hợp này, nhận thức có sự chi phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thoả mãn nhu cầu). Nhu cầu của một cá nhân, đa dạng và vô tận.
Về mặt quản lý, ngƣời quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân. Việc thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định hƣớng của nhà quản lý, do đó ngƣời quản lý luôn có thể điều khiển đƣợc các cá nhân. Nhu cầu có thể chia thành 2 nhóm: nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần. Nhu cầu vật chất gắn liền với những mong muốn về vật chất để tồn tại và phát triển của con ngƣời.
Nhu cầu tinh thần gắn liền với sự hài lòng thỏa mãn về tâm lý. 11 Với nhu cầu vật chất, việc thỏa mãn đƣợc chúng phụ thuộc vào tiền lƣơng, tiền công, tiền thƣởng, … (hay còn đƣợc gọi là thu nhập) mà NLĐ nhận đƣợc từ ngƣời sử dụng lao động, thu nhập càng cao thì mức độ thỏa mãn về mặt vật chất là càng lớn. Tuy nhiên doanh nghiệp chỉ tăng tới một mức độ, nếu liên tục tăng lƣơng sẽ làm tăng chi phí của doanh nghiệp (giảm lợi nhuận) đồng thời khi tiền lƣơng tăng cao thì NLĐ có xu hƣớng giảm số giờ làm việc, tăng số thời gian hƣởng thụ (du lịch, nghỉ dƣỡng, …), mong đƣợc tôn trọng hơn. Với nhu cầu tinh thần, việc thỏa mãn nhu cầu này khác nhau lại khác nhau giữa những nhà quản lý, tập thể NLĐ.
Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về các giá trị tinh thần cũng nâng cao, con ngƣời đòi hỏi đƣợc đáp ứng những nhu cầu này để tồn tại, phát triển về mặt trí lực nhƣ nhu cầu học tập để nâng cao trình độ hiểu biết; Nhu cầu thẩm mỹ và giao tiếp xã hội; Nhu cầu công bằng xã hội. ❖ Động cơ và động lực Theo tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân: “Động cơ đƣợc hiểu là sự sẵn sàng, quyết tâm thực hiện với nỗ lực ở mức độ cao để đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức và nó phụ thuộc vào khả năng đạt đƣợc kết quả để thỏa mãn đƣợc các nhu cầu cá nhân” [12,tr. Động cơ là kết quả của sự tƣơng tác giữa các cá nhân và tình huống, có tác dụng chi phối thúc đẩy ngƣời ta suy nghĩ và hành động. Các cá nhân khác nhau có động cơ khác nhau, mức độ thúc đẩy của động cơ cũng khác nhau trong các tình huống khác nhau và động cơ rất trừu tƣợng, khó xác định.
Theo tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân: “Một cách tự nhiên thì động lực đƣợc hiểu là sự khát khao và tự nguyện của con ngƣời nhằm tăng cƣờng sự nỗ lực để đạt đƣợc mục đích hay một kết quả cụ thể.18] 12 Khi bàn về động lực của NLĐ trong tổ chức, các nhà quản lý thƣờng thống nhất ở một số điểm sau đây: - Động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và môi trƣờng làm việc, không có động lực chung chung không gắn với công việc cụ thể nào. - Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân của NLĐ. Điều đó có nghĩa là không có ngƣời có động lực và ngƣời không có động lực. - Trong trƣờng hợp các nhân tố khác không thay đổi động lực sẽ dẫn tới năng suất, hiệu quả công việc cao hơn.
- Tuy nhiên không nên cho rằng động lực tất yếu dẫn đến năng suất và hiệu quả công việc bởi vì sự thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực của con ngƣời mà còn phụ thuộc vào khả năng, năng lực của NLĐ, phƣơng tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc. - NLĐ nếu không có động lực thì vẫn có thể hoàn thành công việc. Tuy nhiên, NLĐ nếu mất động lực hoặc suy giảm động lực sẽ không mất khả năng thực hiện công việc và có xu hƣớng ra khỏi tổ chức. Từ những định nghĩa trên ta có thể đƣa ra một cách hiểu chung nhất về động lực nhƣ sau: “Động lực là những nhân tố bên trong kích thích bản thân mỗi cá nhân nỗ lực làm việc với sự khao khát và tự nguyện để đạt đƣợc các mục tiêu của bản thân và mục tiêu của tổ chức”.
❖Động lực lao động Có nhiều khái niệm về động lực lao động, mỗi khái niệm có một quan điểm khác nhau nhƣng đều làm rõ đƣợc bản chất của động lực lao động. Theo tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân: “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức”.128] Động lực lao động xuất phát từ trong nội tại suy nghĩ của NLĐ. Động lực lao động đƣợc thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi NLĐ 13 đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức. Mỗi NLĐ đảm nhiệm một công việc khác nhau có thể có động lực lao động khác nhau để làm việc tích cực hơn.
Có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về động lực lao động: Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ bản thân NLĐ. ❖ Tạo động lực lao động Theo tác giả Lê Thanh Hà: “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, nhà quản lý để tạo ra sự khát khao, tự nguyện của ngƣời lao động buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu nhằm đạt đƣợc các mục tiêu mà tổ chức đề ra. Các biện pháp đƣợc đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về vật chất, tinh thần, cách hành xử của tổ chức đƣợc thể hiện ở điểm tổ chức đó đối xử lại với ngƣời lao động nhƣ thế nào” [13, tr.145] Theo Bùi Anh Tuấn: “Tạo động lực lao động đƣợc hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến ngƣời lao động nhằm làm cho ngƣời lao động có động lực làm việc” [19, tr.
Tổng kết lại, “Động lực lao động là yếu tố bên trong xuất phát từ bản thân của mỗi NLĐ mà nhờ đó họ nảy sinh sự khát khao và tự nguyện lao động nhằm đạt đƣợc mục tiêu của bản thân”. Các học thuyết tạo động lực cơ bản 1. Học thuyết nhu cầu của Maslow Abraham Maslow là một nhà tâm lý học nổi tiếng ngƣời Mỹ. Ông là ngƣời đáng chú ý nhất với sự đề xuất về Tháp nhu cầu.
Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con ngƣời cần đƣợc đáp ứng nhƣ thế nào để một cá nhân hƣớng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về 14 thể chất lẫn tinh thần. Ông nhấn mạnh rằng trong mỗi con ngƣời bao giờ cũng tồn tại một hệ thống phức tạp gồm 5 nhóm nhu cầu, thứ tự từ thấp tới cao: Nhu cầu tự hoàn thiện Nhu cầu đƣợc tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu về an toàn Nhu cầu về sinh lý (vật chất) Hình 1.1: Tháp nhu cầu của Maslow (Nguồn: Lê Thanh Hà (2009), Giáo trình quản trị nhân lực tập II, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội, [13, tr.158]) Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con ngƣời nhƣ nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sƣởi ấm và thoả mãn về tình dục. Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con ngƣời. Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con ngƣời sẽ không tồn tại đƣợc.
Ông quan niệm rằng, khi những nhu cầu này chƣa đƣợc thoả mãn tới mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con ngƣời sẽ không thể tiến thêm nữa. Nhu cầu về an toàn: Ở mức nhu cầu này con ngƣời sẽ phản ứng lại đối với những dấu hiệu nguy hiểm, có nguy cơ đe dọa đến bản thân. An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác nhƣ an toàn lao động, an toàn môi trƣờng, an toàn nghề nghiệp, an toàn kinh tế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm lý, an toàn nhân sự, … 15 Nhu cầu xã hội: Khi đã thỏa mãn các nhu cầu sinh lý, đƣợc an toàn thì ngay lập tức nảy sinh cấp độ tiếp theo của nhu cầu. Các nhu cầu xã hội hay tình cảm lúc đó sẽ trở lên quan trọng, do con ngƣời là thành viên của xã hội nên họ cần nằm trong xã hội và đƣợc ngƣời khác thừa nhận.
Nhu cầu được tôn trọng: Nhu cầu này gồm hai loại: Lòng tự trọng và đƣợc ngƣời khác tôn trọng. + Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muốn giành đƣợc lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trƣởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện. + Nhu cầu đƣợc ngƣời khác tôn trọng gồm khả năng giành đƣợc uy tín, đƣợc thừa nhận, đƣợc tiếp nhận, có địa vị, có danh dự, .