Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực lao động trong doanh nghiệp Chương 2: Phân tích thực trạng tạo động lực lao động tại Công ty Viettel Bắc Ninh-chi nhánh Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội Chương 3: Giải pháp nhằm tạo động lực lao động tại Công ty Viettel Bắc Ninh-chi nhánh Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội (LUAN.doi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.doi 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm 1. Nhu cầu Nguồn lực con người đóng vai trò quan ngày càng quan trọng đối với tổ chức. Các nhà quản lý ngày càng quan tâm đến việc làm sao để nguồn nhân lực này có thể phát huy một cách tốt nhất, làm sao để người lao động cụ thể làm việc một cách hăng say, nhiệt tình nhất, đạt hiệu quả cao nhất.
Với cùng một công việc, cùng một điều kiện làm việc, tuy nhiên mỗi người sẽ có kết quả khác nhau. Do vậy, những vấn đề liên quan đến nhân tố con người trong sản xuất như nhu cầu, lợi ích, động cơ, động lực của họ trong quá trình tham gia lao động đã trở thành một bước ngoặt trong khoa học điều hành, quản lý nhằm tăng năng suất và hiệu quả lao động đối với tổ chức, doanh nghiệp. Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương: “Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển” [24, tr. Nhu cầu bao gồm nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần: Nhu cầu về vật chất là đòi hỏi về những điều kiện vật chất cho con người tồn tại và phát triển thể lực.
Đây là nhu cầu để đảm bảo một cuộc sống cho con người, có như thế thì con người mới có thể tồn tại được. Nhu cầu tinh thần đòi hỏi những điều kiện để con người tồn tại và phát triển về mặt trí lực. Với nhu cầu này để đảm bảo cho sự phát triển về mặt chất của con người, con người có thể tăng sự tư duy của mình, phát triển trí tuệ để có thể làm việc trong môi trường xã hội hiện nay. Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần có quan hệ biện chứng với nhau, điều này bắt nguồn từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
Khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển cả hai nhu cầu đều tăng lên nhưng tốc độ phát triển của hai nhu cầu này không bằng nhau. Khi đạt tới nhu (LUAN.doi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.doi 12 cầu vật chất thì nhu cầu tinh thần phát triển nhanh. Nhu cầu xuất hiện được một thời gian khi nhu cầu đó được thỏa mãn và không còn tồn tại nữa và sẽ bắt đầu xuất hiện nhu cầu mới cao hơn. Ở một góc độ khác, với mỗi người cụ thể khác nhau trong xã hội, việc thực hiện các nhu cầu cũng rất khác nhau tùy theo từng quan điểm của từng cá nhân.
Nhu cầu chưa được thỏa mãn tạo ra tâm lý căng thẳng, khiến con người phải tìm cách để đáp ứng. Người lao động cũng như vậy, họ bị thúc đẩy bởi trạng thái mong muốn. Để có thể thỏa mãn được những mong muốn này, mong muốn càng lớn thì nỗ lực càng cao và ngược lại. Động cơ Thuật ngữ động cơ cũng được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau, do các tiếp cận rộng, hẹp khác nhau.
Có quan điểm cho rằng, động cơ là sự án chỉ những nỗ lực cả bên trong lẫn bên ngoài của một con người có tác động khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuổi một cách thức hành động xác định. Một số quan điểm khác lại cho rằng động cơ là nhu cầu đã trở nên bức thiết buộc con người phải hành động để thỏa mãn nó. Khi nhu cầu được thỏa mãn thì sẽ giảm bớt trạng thái căng thẳng và khi không còn trạng thái căng thẳng này nữa thì động cơ sẽ tạm biến mất. Theo Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm: “Động cơ là ám chỉ những nỗ lực cả bên trong lẫn bên ngoài của một con người, có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuổi một cách thức hành động đã xác định” [15, tr.
Như vậy, động cơ làm việc là sự sẵn sàng dồn sức lực, tâm trí để theo đuổi mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức. Trong đó, có những động cơ làm việc cá nhân cùng hướng đến mục tiêu chung của tổ chức, cùng đem lại điều tốt đẹp cho mọi người sẽ được xem là những động cơ trong sáng. Từ việc nghiên cứu động cơ thúc đẩy sẽ giúp các nhà quản trị hiểu được cái gì đã thôi thúc con người hành động và tại sao họ kiên trì theo đuổi các mục tiêu, từ đó giúp cho việc định hướng sử dụng các công cụ hợp lý hơn.doi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.doi 13 Trong thực tế, khi người quản lý có thời gian tiếp xúc và trao đổi với nhân viên nhiều hơn thì họ sẽ hiểu được cái gì đã thôi thúc người lao động cống hiến hết mình, nhiều khi họ còn tự nguyện hi sinh thời gian và công sức của mình cho tổ chức. Động lực Động lực làm việc của người lao động trong doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất, hiệu quả làm việc cho người lao động và doanh nghiệp.
Mục đích quan trong của tạo động lực là sử dụng nguồn lao động, khai thái hiệu quả nguồn lực con người. Có nhiều cách hiểu khác nhau về động lực. Theo Phạm Đức Thành và Mai Quốc Chánh (1998): “Động lực là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép, tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động [22, tr.
Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân: “Động lực là sự khát khao, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” [15, tr. Như vậy, có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về động lực lao động: Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động. Động lực lao động Sự thành công của một doanh nghiệp phụ thuộc lớn vào trình độ thực hiện nhiệm vụ của người lao động.
Kết quả và hiệu quả của việc thực hiện nhiệm vụ của người lao động được quy định bởi các yếu tố như: năng lực, điều kiện làm việc và mức độ động viên. Trong tập thể người lao động luôn có những người làm việc hăng say, nhiệt tình và có kết quả thực hiện công việc cao. Bên cạnh đó cũng có những người làm việc trong trạng thái uể oải, (LUAN.doi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.doi 14 thiếu hứng thúc trong lao động, kết quả làm việc thấp. Các nhà khoa học chỉ ra rằng chìa khóa để giải quyết tình trạng trên là tạo ra động lực lao động của mỗi cá nhân để hình thành và phát triển bầu không khí tích cực trong làm việc của mỗi cá nhân người lao động.
Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về tạo động lực lao động, sự khác nhau này xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau. Theo Mai Quốc Chánh: “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người và trong môi trường sống và làm việc của con người” [2, tr. Theo tác giả Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2009): “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [24, tr. Có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về động lực lao động: Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động. * Mối quan hệ giữa nhu cầu, động cơ, động lực lao động Như đã trình bày ở phần 1.1, nhu cầu luôn tồn tại trong mỗi con người và là một phạm trù tồn tại vĩnh viễn trong mọi chế độ xã hội.
Con người thường có xu hướng tìm cách thỏa mãn nhu cầu đó khi nó xuất hiện. Nhưng không có một nhu cầu nào được thỏa mãn hoàn toàn mà chỉ thỏa mãn đến một mức độ nhất định nào đó. Khi một nhu cầu được thỏa mãn thì sẽ xuất hiện nhu cầu mới và lại thúc đẩy con người hành động để thỏa mãn nhu cầu mới đó. Động lực lao động xuất hiện và tồn tại khi có một khoảng cách giữa (LUAN.doi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.doi 15 nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu.
Lúc này con người mới có động cơ và động lực thúc đẩy họ hành động để đạt được thỏa mãn cao nhất nhu cầu của mình. Động cơ và động lực lao động cũng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Động cơ là cơ sở là tiền đề hình thành nên động lực lao động, ngược lại, động lực lao động sẽ góp phần củng cố động cơ lao lao động. Động cơ lao động là cái dẫn dắt thúc đẩy con người đi tìm cho mình một công việc phù hợp và trong quá trình làm việc dưới tác động của nhiều yếu tố thì động lực lao động có thể xuất hiện với các mức độ khác nhau.
Mối quan hệ giữa động cơ và động lực giúp cho nhà quản trị có biện pháp tạo động lực cho người lao động khi đã nắm bắt được động cơ của họ. Tạo động lực lao động Trong các nguồn lực của doanh nghiệp, nguồn nhân lực là yếu tố then chốt, quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp thành công là doanh nghiệp biết vận dụng tối đa nguồn nhân lực để người lao động tự giác, hăng hái, tích cực, nhiệt tình, tâm huyết, sáng tạo trong lao động.