Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm cơ bản về tạo động lực lao động trong doanh nghiệp 1. Nhu cầu, động cơ lao động 1. Nhu cầu lao động “Nhu cầu được hiểu là sự không đầy đủ về vật chất hay tinh thần mà làm cho một số hệ quả (tức là hệ quả của việc thực hiện nhu cầu) trở nên hấp dẫn.176] “Nhu cầu là trạng thái tâm lí mà con người cảm thấy thiếu thốn không thỏa mãn về một cái gì đó và mong được đáp ứng.180] Nhu cầu gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người cũng như cộng đồng và tập thể xã hội.
Hệ thống nhu cầu rất phong phú và đa dạng, gồm nhiều loại nhu cầu: - Nhu cầu sinh lí: các nhu cầu thiết yếu và thông thường nhất như ăn, mặc, ở, nghỉ ngơi, đi lại. - Nhu cầu về lao động, về an ninh, tình cảm. - Nhu cầu được kính trọng: quyền lực, địa vị xã hội, uy tín, mức độ ảnh hưởng tới xã hội, sự giàu có. - Nhu cầu thẩm mĩ: cái đẹp, cái tốt, cái thiện.
- Nhu cầu tự hoàn thiện: tự do, trách nhiệm, sự phát triển. - Nhu cầu về giao tiếp: các quan hệ xã hội, giao lưu, học hỏi. Nhu cầu của con người luôn luôn biến đổi, với mỗi người cụ thể khác nhau trong xã hội, việc thực hiện các nhu cầu cũng rất khác nhau tùy theo quan điểm của từng cá nhân. Nhưng nhìn chung, để thỏa mãn tất cả các nhu cầu là hết sức khó khăn, chỉ có thể thỏa mãn một hoặc một số nhu cầu nào đó trong từng giai đoạn khác nhau của cuộc đời.
Nhu cầu lao động là nhu cầu con người được làm việc, được sử dụng trình độ, trí tuệ của mình để cống hiến cho tổ chức, cho xã hội. Trong quá trình làm việc, con người mong muốn có quan hệ tốt với tổ chức, với lãnh đạo, với đồng nghiệp và có nhu cầu được gắn bó với tổ chức. Động cơ lao động Động cơ là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người, là những mục tiêu thúc đẩy hành động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ. Động cơ cũng đã được định nghĩa là tất cả những điều kiện phấn đấu nội tâm được mô tả như những ước muốn, những mong muốn, những ham muốn.
Động cơ mạnh sẽ thúc đẩy con người hành động một cách tích cực, đạt hiệu quả cao và đó là động lực tốt cho họ làm việc. Vì động cơ và động lực xuất phát từ chính bản thân con người, nên nhà quản trị chủ yếu cần tạo điều kiện làm xuất hiện động cơ và nâng cao động lực của con người. * Mối quan hệ giữa nhu cầu và động cơ Để xác định mối quan hệ giữa động cơ với nhu cầu, ta xem xét mô hình sau về mối quan hệ: Nhu cầu – Động cơ – Hành động – Kết quả. Động cơ Hành động Kết quả Động lực Nhu cầu Thoả mãn Sơ đồ 1.
Mối quan hệ giữa động cơ với nhu cầu Nguồn: Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực [7] Như vậy, mô hình này đề cập đến nguyên nhân, kết quả và quá trình dẫn đến kết quả của việc tạo động lực cho người lao động. Mô hình chỉ ra rằng: Hệ thống nhu cầu chính là cơ sở quan trọng tạo nên động cơ và động lực của con người. Động lực được hình thành sẽ biến thành hành động cụ thể và điều này sẽ đem lại kết quả tất yếu. Tất cả quá trình này từ lúc xuất phát là nhu cầu của chính con người cho đến khi đạt được kết quả mong đợi, suy cho cùng cũng là để thỏa mãn nhu cầu của chính họ.
Động lực lao động và tạo động lực lao động 1. Động lực lao động “Động lực là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân để tăng cường sự nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”.128] Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu 10 hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động. Tạo động lực lao động Tạo động lực lao động là những hoạt động có tính chất khuyến khích động viên nhằm tác động vào nhu cầu của người lao động để tạo nên sự chuyển biến trong hành vi của họ hướng theo những mục tiêu mà tổ chức mong muốn.
Tạo động lực là quá trình làm nảy sinh động lực trong mỗi cá nhân người lao động. Do đó tạo động lực được hiểu là sự vận dụng các chính sách, biện pháp, các công cụ quản lí thích hợp tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động xuất hiện động lực trong quá trình làm việc từ đó thúc đẩy họ hài lòng với công việc, mong muốn và nỗ lực làm việc hơn nữa để đóng góp cho tổ chức. Một số học thuyết về tạo động lực lao động 1. Học thuyết nhu cầu của Abarham Maslow Học thuyết này bàn luận tới hệ thống các nhu cầu của con người và thứ bậc các nhu cầu đó.
Sau một quá trình nghiên cứu, nhà tâm lí học người Mĩ Abraham Maslow đã xem xét những nhu cầu và đi đến kết luận rằng nhu cầu của con người có thể được phân thành những cấp độ nhu cầu khác biệt cơ bản được thể hiện qua tháp nhu cầu.2: Tháp nhu cầu Maslow Nguồn: Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực [7, Tr.180] 11 Nhu cầu sinh lí: Bao gồm nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại và các nhu cầu thể xác khác. Nhu cầu an toàn: Bao gồm an ninh và bảo vệ khỏi những nguy hại về thể chất và tình cảm Nhu cầu xã hội: Bao gồm lòng thương hại, cảm giác trực thuộc, được chấp nhận và tình bạn. Nhu cầu được tôn trọng: Bao gồm các yếu tố bên trong như tự trọng, tự chủ và thành tựu, các yếu tố bên ngoài như địa vị, được công nhận và được chú ý. Nhu cầu tự khẳng định: Bao gồm sự sáng tạo, sự tiến bộ, đạt được tiềm lực của mình và sự tiến hành công việc.
Hệ thống thứ bậc nhu cầu của Maslow được nâng dần từ thấp tới cao. Khi các nhu cầu cấp thấp hơn được thỏa mãn thì lập tức các nhu cầu cao hơn sẽ xuất hiện. Và khi đến lượt những điều này được thỏa mãn, một lần nữa những nhu cầu mới lại xuất hiện và cứ thế. Thuyết nhu cầu của Maslow là thuyết đạt tới đỉnh cao trong việc nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người nói chung.
Học thuyết nhu cầu của Maslow được công nhận rộng rãi, đặc biệt là trong các nhà quản lí điều hành. Nó được chấp nhận do tính logic và tính dễ dàng mà nhờ đó người ta có thể dùng trực giác để hiểu lí thuyết này. Hệ thống thứ bậc nhu cầu này được biết đến rộng rãi và được nhiều nhà quản lí sử dụng làm công cụ hướng dẫn không những trong việc tạo động lực cho người lao động mà còn được sử dụng làm công cụ trong nhiều hoạt động khác liên quan tới việc khai thác nhu cầu của con người. Trong luận văn này, tác giả sử dụng học thuyết này làm nền tảng để xây dựng nội dung tạo động lực lao động.
Học thuyết sự công bằng của Stacy Adams Động lực lao động của con người bị ảnh hưởng rất lớn bởi sự nhìn nhận của người lao động về mức độ công bằng trong tổ chức. Ai cũng muốn được đối xử công bằng, do đó họ luôn có khuynh hướng so sánh quyền lợi và sự đóng góp của mình với quyền lợi và sự đóng góp của người khác. Và một khi cảm thấy bị thiệt thòi họ sẽ nảy sinh những trạng thái tiêu cực như có thái độ lười biếng, chống đối. Vì vậy, nhà quản lí cần phải duy trì sự công bằng trong tổ chức mình cũng như giáo dục người lao động về sự công bằng đó.
12 Tư tưởng về sự công bằng của cá nhân trong doanh nghiệp được thể hiện như sau: Các quyền lợi của cá nhân Các quyền lợi của những người khác = Sự đóng góp của cá nhân Sự đóng góp của những người khác Mở rộng ra bên ngoài doanh nghiệp: Các quyền lợi của cá nhân trong Doanh nghiệp Các quyền lợi cá nhân được hưởng = Sự đóng góp của cá nhân trong cùng công việc trong tổ chức khác Doanh nghiệp Có thể thấy, người lao động sẽ cảm thấy được đối xử công bằng khi nhận thấy tỉ lệ quyền lợi/đóng góp của mình ngang bằng với tỉ lệ đó của những người khác từ đó họ sẽ cảm thấy thỏa mãn trong công việc, tăng hiệu quả thực hiện công việc. Nhưng ngược lại nếu tỉ lệ này là không ngang bằng, họ cho rằng không được đối xử công bằng thì khi đó họ sẽ có những hành vi bất mãn, phản ứng lại nhằm thiết lập lại sự công bằng như: giảm nỗ lực làm việc, làm méo mó các đầu vào hay đầu ra của chính bản thân hoặc của những người khác, vắng mặt nghỉ việc nhiều hơn hoặc thậm chí tự ý bỏ việc. Do vậy để thiết lập và duy trì sự công bằng trong tổ chức nhằm tạo động lực cho người lao động làm việc, doanh nghiệp cần phải xây dựng hệ thống đánh giá tốt, với những tiêu thức đánh giá hợp lí phù hợp, phương pháp đánh giá chính xác công bằng, tiến hành đánh giá một cách công bằng, công khai nhằm mục đích phản ánh chính xác kết quả công việc và đóng góp của người lao động. Đồng thời tiến hành chi trả lương, thưởng và các hoạt động quản trị nhân lực khác phải dựa trên kết quả đánh giá thực hiện công việc.
Bên cạnh đó, cần phải tránh sự phân biệt đối xử giữa những người lao động trong tập thể vì bất kỳ lí do nào như giới, tuổi, dân tộc hay tôn giáo. Học thuyết hai yếu tố của Herzberg Đây là học thuyết về tạo động lực dựa trên cơ sở các yếu tố tạo nên sự thỏa mãn và không thỏa mãn của con người trong công việc. Theo Herzberg, các yếu tố đó được chia ra làm hai nhóm: 13 Bảng 1.