CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm động lực Động lực (hay Động cơ) được định nghĩa là một quá trình khởi tạo, dẫn dắt và duy trì các hành vi có mục đích. Động lực là cái khiến chúng ta hành động, dù là hành động lấy một cốc nước để uống đỡ khát hay đọc một cuốn sách để có thêm kiến thức.
Động lực có liên quan đến các yếu tố thúc đẩy cả về sinh học, cảm xúc, xã hội và nhận thức làm xuất hiện một hành vi. Trong cuộc sống thường ngày, thuật ngữ Động lực thường được dùng để mô tả tại sao một người lại làm một việc gì đó. Khái niệm tạo động lực lao động Tạo động lực lao động là việc vận dụng các chính sách, biện pháp, cách thức quản lí tác động tới người lao động, tác động tới môi trường làm việc và các mối quan hệ xung quanh nhằm làm cho người lao động có động lực làm việc, hài lòng hơn với công việc. Tạo động lực làm việc cho người lao động sẽ khiến cho người lao động có động lực làm việc, họ sẽ dồn hết khả năng để thực hiện công việc được giao, đạt mục tiêu của doanh nghiệp, đáp ứng làm thỏa mãn nhu cầu, gia tăng sự thỏa mãn công việc của người lao động và độ gắn kết của người lao động với doanh nghiệp.
Nội dung của tạo động lực 1. Tạo động lực làm việc cho nhân viên bằng công cụ tiền lương Tiền lương là vấn đề người lao động thường quan tâm nhất khi quyết định làm việc ở một doanh nghiệp nào đó. Tiền lương có thể hiểu là biểu 5 hiện bằng tiền của sức lao động trong mỗi cá nhân, là giá cả của yếu tố sức lao động mà người sử dụng lao động phải trả cho người lao động trong một thời điểm nhất định và luôn tuân theo các quy luật kinh tế của thị trường và pháp luật của Nhà nước ban hành tại thời điểm đó. Tạo động lực làm việc cho nhân viên bằng khen thưởng, phúc lợi * Khen thưởng: là biện pháp tạo động lực cho người lao động.
Hình thức khen thưởng thông qua tiền thưởng, phần thưởng không những thỏa mãn một phần nào đó nhu cầu vật chất của người lao động mà còn có tác dụng kích thích tinh thần của người lao động, thể hiện sự đánh giá, ghi nhận năng lực và những đóng góp của người lao động. * Phúc lợi: là phần thù lao gián tiếp được chi trả dưới dạng hỗ trợ cuộc sống cho người lao động 1. Tạo động lực làm việc cho nhân viên bằng công tác đào tạo Đào tạo là tiến trình nỗ lực cung cấp cho nhân viên những thông tin, kỹ năng và sự thấu hiểu về tổ chức công việc trong tổ chức cũng như mục tiêu. Đào tạo được thiết kế để giúp đỡ hỗ trợ nhân viên tiếp tục có những đóng góp tích cực cho tổ chức.
Công tác đào tạo được thực hiện theo tiến trình sau: + Ấn định nhu cầu đào tạo và phát triển +Xác định các mục tiêu đào tạo cụ thể +Lựa chọn các phương pháp thích hợp +Thực hiện chương trình đào tạo +Đánh giá chương trình đào tạo 1. Tạo động lực làm việc cho nhân viên bằng môi trường làm việc Môi trường làm việc là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất lao động của nhân viên, yếu tố này góp phần quan trọng vào 7 việc khuyến 6 khích nhân viên làm việc đem lại hiệu quả. Môi trường và điều kiện làm việc tốt sẽ làm cho người lao động yên tâm làm việc, có nhiều điều kiện để phát huy năng lực và ngược lại. Các nhân tố ảnh hưởng tới tạo động lực trong lao động 1.
Nhân tố thuộc về nhu cầu của người lao động Con người ở một khoảng không gian nhất định luôn có nhiều nhu cầu khác nhau, trong những nhu cầu đó nhu cầu nào đã chín muồi sẽ là động cơ mạnh nhất quyết định hành vi của họ và khi nhu cầu đó đã được thỏa mãn thì nó sẽ không còn là động cơ thúc đẩy con người làm việc nữa mà lúc này nhu cầu mới xuất hiện sẽ đóng vai trò này. Ví dụ một công nhân bình thường có ước muốn trở thành một đốc công và anh ta sẽ cố gắng làm việc hết sức để trở thành một đốc công nhưng khi anh ta đã trở thành đốc công rồi thì nhu cầu này sẽ không có tác dụng thúc đẩy anh ta làm việc nữa mà nhu cầu thúc đẩy anh ta làm việc mạnh hơn sẽ là mong muốn được trở thành tổ trưởng của anh ta. Như vậy con người ở những vị trí xã hội khác nhau, những điều kiện kinh tế khác nhau thì họ sẽ nảy sinh ra các nhu cầu khác nhau. Khi nắm bắt được nhu cầu của nhân viên, nhà quản trị luôn tìm các biện pháp quản trị thích hợp để động viên, khuyến khích nhân viên nỗ lực làm việc.
Đó chính là bí quyết của sự thành công 1. Nhân tố thuộc về công việc Nhân viên sẽ cảm thấy thế nào khi nhận được một công việc không như mong muốn của họ, ngược lại họ sẽ cảm thấy như thế nào khi nhận được một công việc phù hợp với khả năng, sở trường của họ… những vấn đề này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến năng suất làm việc, hiệu quả làm việc của nhân viên vì vậy nhà quản trị cần quan tâm đến nhu cầu, khả năng của nhân viên để vừa tạo điều kiện cho nhân viên phát huy khả năng của họ vừa tạo ra được sự thoả mãn đối với nhân viên. Tính hấp dẫn của công việc tạo nên sự thoả mãn đối với công việc của nhân viên. Sự thoả mãn sẽ được thể hiện 7 ở thái độ của người đó trong quá trình làm việc.
Tính hấp dẫn của công việc là một khái niệm khá rộng, đối với nhân viên nó không chỉ là một công việc như mong muốn mà nó còn là sự kiểm soát đối với công việc, sự ủng hộ của lãnh đạo trong quá trình làm việc, những phần thưởng, trợ cấp đối với công việc… Tất cả những vấn đề này có tác dụng tạo động lực cho nhân viên trong quá trình làm việc. Khi nhân viên nhận được công việc phù hợp với khả năng, sở trường của họ thì họ sẽ phát huy năng lực làm việc của họ một cách tối đa dù những điều kiện dù bình thường nhất. Nhà quản trị cần dựa vào những đặc điểm tâm lý cá nhân, tính cách của từng nhân viên để sắp xếp công việc cho phù hợp với họ. Những công việc có tính thách thức sẽ là động cơ tốt cho nhân viên làm việc.
Nhân viên trong doanh nghiệp sẽ cảm thấy thoả mãn, thoải mái hơn khi chính sách doanh nghiệp như lương, thưởng, trợ cấp, phúc lợi phù hợp với nhu cầu của họ. Ví dụ khi xem xét hệ thống phân phối thu nhập ta phải chú ý đến nhu cầu công việc, cấp độ kỹ năng của cá nhân và những tiêu chuẩn phân phối trong cộng đồng, từ đó sẽ tạo ra được sự công bằng trong công việc và trong doanh nghiệp. Tuy nhiên không phải nhu cầu vật chất tồn tại ở tất cả nhân viên, có người thích tiền nhưng có người lại không phải là như vậy có thể nhu cầu của họ sẽ là sự tự do trong công việc, muốn được đi nhiều…vì vậy nhà quản lý phải dựa vào đặc điểm của mỗi cá nhân để thiết kế lên một công việc phù hợp nhất. Nhân tố thuộc về tổ chức Tất cả các tổ chức đều hoạt động dựa trên nhũng qui định chung.
Nhưng đặc điểm và hoàn cảnh của mỗi tổ chức đều khác nhau. Với những đặc trưng khác nhau thì không thể động viên giống nhau. Những tổ chức có đặc điểm ngành nghề sản xuất kinh doanh khác nhau có những hình thức động viên khác nhau, như ngành sản xuất kinh doanh thực phẩm, đồ uống sẽ có những chính sách động viên, khuyến khích khác với các ngành công 8 nghiệp nặng hay ngành dịch vụ. Ai cũng biết động viên tinh thần là không đủ, cần phải thưởng vật chất ở mức tối thiểu nào đó để có thể nói rằng thưởng một cách có giá trị thực tế.
Tuy nhiên cũng có nhiều tổ chức vẫn phát bằng khen thật to là chính, tiền thưởng thì lại nhỏ vì lý do không đủ tài chính. Ngay cả khi ban chế độ phúc lợi cũng thu hút nhân viên, ngừơi tài đều dựa trên sức mạnh tài chính của tổ chức đó. 9 CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG TẠO ĐỘNG LỰC CHO NHÂN VIÊN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÍCH LÍP ĐÔNG ANH 2.
Giới thiệu về công ty cổ phần Xích Líp Đông Anh 2. Quá trình hình thành và phát triển của công ty Doanh nghiệp Xích Líp Đông Anh được thành lập ngày 7/7/1974 với vốn điều lệ 60 tỷ VNĐ, có diện tích khoảng 83,299 m2 nhà xưởng. Các sản phẩm của công ty đã đạt được tiêu chuẩn: ISO 9001 và ISO 14001. Cán bộ công nhân viện trong công ty 1553 trong đó 1300 công nhân sản xuất trực tiếp và 253 công nhân sản xuất gián tiếp.
Những khách hàng chính hãng đang phục vụ: Honda Việt Nam, YAMAHA, Machino Auto Parts, VAP, VMEP, GOSHI Thang Long, Piaggio Việt Nam… - Tên Tiếng Việt: CÔNG TY CỔ PHẦN XÍCH LÍP ĐÔNG ANH - Tên Tiếng Anh: DONG ANH C & F JOINTSTOCK COMPANY - Tên viết tắt: DFC - Địa chỉ: Số 11- tổ 47 - Thị trấn Đông Anh - Huyện Đông Anh - Thành phố Hà Nội - Việt Nam. - Điện thoại: 024 3883 2369 - Fax: 3883220 - Web: http://www.vn/ - Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần Từ năm 1975 đến năm 1985 với chức năng và nhiệm vụ sản xuất phụ tùng xe đạp phục vụ cho nhu cầu thiết yếu trong nước. Sản phẩm sản xuất kinh doanh chủ yếu các linh kiện phụ tùng xe đạp, xe máy, ôtô phục vụ cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu. Ngoài ra 10 công ty còn sản xuất các loại sản phẩm kim khí khác đáp ứng yêu cầu.
Công ty hướng vào nhiệm vụ sản xuất kinh doanh xích, líp, phụ tùng xe đạp và công nghiệp; liên doanh, liên kết, hợp tác đầu tư với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước; nhập khẩu nguyên vật liệu để mở rộng sản xuất kinh doanh, làm đại lý, mở cửa hàng giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm của công ty. Giai đoạn 1985 – 1997: Giai đoạn kinh tế đất nước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước xóa bỏ bao cấp. Đây là thời kỳ vô cùng khó khăn của Công ty: xích và líp xe đạp không tiêu thụ được vì không đủ sức cạnh tranh về giá cả với sản phẩm cùng loại của Trung Quốc. Phần lớn CBNV thất nghiệp.