phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về tạo động lực lao động trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Phân tích thực trạng tạo động lực lao động tại khối lao động trực tiếp Công ty cổ phần Phục vụ mặt đất Hà Nội. Chƣơng 3: Các giải pháp hoàn thiện tạo động lực lao động cho cho khối lao động trực tiếp tại Công ty cổ phần Phục vụ mặt đất Hà Nội. 11 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ L LUẬN CHUNG VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm 1.
Động lực Mỗi tổ chức muốn thực hiện tốt đƣợc mục đích của mình trong sản xuất, kinh doanh thì phải hiểu rõ cái gì sẽ khiến cho mọi ngƣời tiến hành công việc, cái gì thúc đẩy họ làm việc. Các nhà kinh tế học đã chỉ ra rằng câu trả lời cho vấn đề trên chính là động lực lao động của mỗi cá nhân ngƣời lao động. Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về bản chất của động lực lao động: “Động lực là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân để tăng cường sự nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”. [1, tr 128] Maier và Lawler (1973) đã đƣa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc là một hàm số của năng lực và động lực làm việc.
Trong đó, năng lực làm việc phụ thuộc vào khả năng bẩm sinh; kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm có đƣợc thông qua đào tạo; các nguồn lực để thực hiện công việc. Động lực là sự khao khát tự nguyện của mỗi các nhân. Bedeian (1993) cho rằng động lực là sự cố gắng để đạt đƣợc mục tiêu. Higgins (1994) đƣa ra khái niệm động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chƣa đƣợc thỏa mãn.
Kreitner (1995) cho rằng: động lực lao động là một quá trình tâm lý mà nó định hƣớng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định. Khi bàn về động lực của ngƣời lao động trong tổ chức, các nhà quản lý thƣờng thống nhất ở một số điểm sau đây: - Động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và môi trƣờng làm việc, không có động lực chung chung không gắn với công việc cụ thể nào. 12 - Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân của ngƣời lao động. Điều đó có nghĩa là không có ngƣời có động lực và ngƣời không có động lực.
- Trong trƣờng hợp các nhân tố khác không thay đổi động lực sẽ dẫn tới năng suất , hiệu quả công việc cao hơn. - Tuy nhiên không nên cho rằng động lực tất yếu dẫn đến năng suất và hiệu quả công việc bởi vì sự thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực của con ngƣời mà còn phụ thuộc vào khả năng, năng lực của ngƣời lao động, phƣơng tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc. - Ngƣời lao động nếu không có động lực thì vẫn có thể hoàn thành công việc. Tuy nhiên, ngƣời lao động nếu mất động lực hoặc suy giảm động lực sẽ không mất khả năng thực hiện công việc và có xu hƣớng ra khỏi tổ chức.
Từ những định nghĩa trên ta có thể đƣa ra một cách hiểu chung nhất về động lực nhƣ sau: “Động lực là những nhân tố bên trong kích thích bản thân mỗi cá nhân nỗ lực làm việc với sự khao khát và tự nguyện để đạt được các mục tiêu của bản thân và mục tiêu của tổ chức”. Nhu cầu Cùng với sự vận động phát triển của xã hội thì nhu cầu của con ngƣời ngày càng tăng lên về số lƣợng, về mức độ thỏa mãn. Khi ngƣời lao động tham gia vào quá trình sản xuất có nghĩa là họ muốn đƣợc thỏa mãn những nhu cầu, đòi hỏi trong cuộc sống. “Nhu cầu là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển” [2, tr 14] "Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn không thoả mãn về một cái gì đó và mong được đáp ứng nó" [1, tr 129].
Nhu cầu gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con ngƣời cũng nhƣ cộng đồng và tập thể xã hội. Nhu cầu gắn liền với sự tồn tại và phát triển của 13 con ngƣời cũng nhƣ của cộng đồng và tập thể xã hội. Nhu cầu có tính phong phú, đa dạng và vận động hệ thống nhu cầu rất phong phú, đa dạng gồm nhiều loại nhu cầu :nhu cầu sinh lý, nhu cầu đƣợc kính trọng, nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu tự hoàn thiện, nhu cầu về giao tiếp, nhu cầu về sản xuất xã hội nhu cầu tự phủ định, nhu cầu về sự biến đổi. Nhƣ vậy, hệ thống nhu cầu của con ngƣời hết sức phức tạp, song cơ bản nó đƣợc chia thành 3 nhóm nhu cầu chính là: nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần và nhu cầu xã hội.
Sự thỏa mãn nhu cầu và vật chất và tinh thần dù ít cũng sẽ là động cơ thúc đẩy con ngƣời tích cực lao động hăng say, sáng tạo. Một trong những chìa khóa để tìm ra các động cơ bên trong thúc đẩy con ngƣời lao động đó là nghiên cứu các hệ thống nhu cầu của họ và tìm mọi biện pháp để thỏa mãn các nhu cầu đó một cách tối ƣu. Lợi ích “Lợi ích là kết quả mà con người nhận được qua các hoạt động của bản thân, cộng đồng, tập thể và xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân” [1, tr 129]. Lợi ích chính là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần mà mỗi cá nhân nhận đƣợc từ tổ chức.
Cũng giống nhu cầu, có nhiều loại lợi ích khác nhau: lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích trƣớc mắt, lợi ích lâu dài, lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể…. Giữa lợi ích và nhu cầu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu không có nhu cầu thì không thể thoả mãn nhu cầu và lợi ích cũng không xuất hiện. Khi nhu cầu xuất hiện con ngƣời sẽ tìm cách để thoả mãn nhu cầu, kết quả của sự thoả mãn nhu cầu là lợi ích đạt đƣợc.
Khi sự thoả mãn nhu cầu càng lớn, khoảng cách giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu càng đƣợc rút ngắn thì lợi ích càng lớn. Lợi ích đạt đƣợc càng cao thì động lực thôi thúc càng mạnh. Khi khoảng cách giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu chƣa đƣợc rút ngắn thì nó còn thúc đẩy con ngƣời hành động để rút ngắn khoảng cách đó. Đó chính 14 là động lực, động lực muốn rút ngắn khoảng cách đó để đem lại lợi ích cao nhất.
Nhƣ vậy có thể hiểu “Lợi ích là mức độ thoả mãn các nhu cầu về vật chất, tinh thần của con người trong những điều kiện cụ thể nhất định”. Tạo động lực lao động Tạo động lực là quá trình làm nảy sinh động lực trong mỗi cá nhân ngƣời lao động. Do đó tạo động lực đƣợc hiểu là sự vận dụng các chính sách, biện pháp, các công cụ quản lý thích hợp tác động đến ngƣời lao động nhằm làm cho ngƣời lao động xuất hiện động lực trong quá trình làm việc từ đó thúc đẩy họ đồng ý với công việc, mong muốn và nỗ lực làm việc hơn nữa để đóng góp cho tổ chức. Có thể hiểu tạo động lực chính là quá trình làm nảy sinh động lực lao động trong mỗi cá nhân ngƣời lao động.
Do đó, tạo động lực đƣợc hiểu nhƣ sau: “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức.” [8, tr145] Nhƣ vậy, có thể coi vấn đề tạo động lực lao động chủ yếu là vấn đề thuộc về sự chủ động của tổ chức. Các biện pháp đƣợc đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về vật chất và tinh thần, còn cách ứng xử của tổ chức đƣợc thể hiện ở việc tổ chức đó đối xử với ngƣời lao động nhƣ thế nào. Các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh muốn hoạt động sản xuất đạt đƣợc năng suất cao thì đòi hỏi ngƣời lao động phải làm việc hết mình và sáng tạo. Để làm đƣợc điều này thì các nhà quản lý cần phải đƣa ra các phƣơng pháp và hình thức quản lý sao cho phù hợp với điều kiện của công ty và môi trƣờng hoạt động sản xuất kinh doanh mà công ty tham gia Với cách hiểu nhƣ trên có thể hiểu tạo động lực lao động chính là quá trình làm nảy sinh động lực lao động trong mỗi cá nhân ngƣời lao động.
“Tạo 15 động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực lao động trong công việc, thúc đẩy họ đồng ý hơn với công việc và nỗ lực phấn đầu để đạt được các mục tiêu của bản thân và tổ chức”. Một số học thuyết về tạo động lực lao động 1. Học thuyết về nhu cầu của Maslow Năm 1943, Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hƣởng của nó đƣợc thừa nhận rộng rãi và sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Đó là Lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con ngƣời.
Ông chia hệ thống nhu cầu thành 5 nhóm khác nhau theo thứ tự từ nhu cầu bậc thấp đến nhu cầu bậc cao nhƣ sau: (Nguồn: 8, tr 158) Hình 1.1: Tháp nhu cầu của A. Nhu cầu sinh lý: là các nhu cầu cơ bản nhất của con ngƣời để tồn tại nhƣ không khí, nƣớc, lƣơng thực….Nhƣ vậy, có thể thấy việc trả công lao 16 động tối thiểu cần đủ để đáp ứng những nhu cầu này giúp đảm bảo cuộc sống cho ngƣời lao động và gia đình. Nhu cầu an toàn: nhu cầu an toàn là nhƣ cầu đƣợc ổn định, chắc chắn, muốn đƣợc bảo vệ an toàn thân thể. Trong lao động, ngƣời lao động muốn có công việc ổn định, môi trƣờng an toàn, đảm bảo về y tế sức khỏe,… 3.
Nhu cầu xã hội: là một trong những nhu cầu bậc cao của con ngƣời. Nhu cầu xã hội bao gồm nhu cầu giao, đƣợc thể hiện và chấp nhận tình cảm, nhu cầu đƣợc chia sẻ sự yêu thƣơng… Để đáp ứng nhu cầu này, tổ chức cần tạo điều kiện cho ngƣời lao động làm việc theo nhóm, tổ chức giao lƣu, sinh hoạt tập thể ngoài giờ làm việc… 4.