phần mở đầu, nội dung và kết luận, trong đó nội dung được bố cục thành 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về tạo động lực lao động cho công chức Chƣơng 2: Phân tích thực trạng tạo động lực cho công chức tại văn phòng Tổng cục Thuế Chƣơng 3: Các giải pháp nhằm tạo động lực lao động (LUAN.Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Nam 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG CHO CÔNG CHỨC 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG CHỨC 1.1 Khái niệm và phân loại công chức 1.1 Khái niệm Khái niệm công chức gắn liền với sự ra đời công chức ở các nước tư bản phương Tây vào nửa cuối thế kỷ XIX. Trên thực tế, mỗi quốc gia cũng có quan niệm và định nghĩa khác nhau về công chức: Cộng hoà Pháp, định nghĩa: “Công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do nhà nước tổ chức, bao gồm cả trung ương và địa phương nhưng không kể đến các công chức địa phương thuộc các hội đồng thuộc địa phương quản lí”. Trung Quốc, khái niệm công chức được hiểu là: "Công chức nhà nước là những người công tác trong cơ quan hành chính nhà nước các cấp, trừ nhân viên phục vụ. Công chức gồm hai loại: - Công chức lãnh đạo là những người thừa hành quyền lực nhà nước.
Các công chức này bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều hành của Hiến pháp, Điều lệ công chức và Luật tổ chức của chính quyền các cấp. - Công chức nghiệp vụ là những người thi hành chế độ thường nhiệm, do cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lí căn cứ vào Điều lệ công chức. Họ chiếm tuyệt đại đa số trong công chức nhà nước, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành các chính sách và pháp luật”. Ở Việt Nam, ngày 20-5-1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh số 76/SL về Quy chế công chức, tại Điều I, mục 1 công chức được định nghĩa là:" Những công dân Việt Nam, được chính quyền nhân dân tuyển dụng để (LUAN.Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Nam 5 giữ một vị trí thường xuyên trong các cơ quan của Chính phủ ở trong hay ngoài nước”.
Ngày 26-12-1998, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức, gồm 7 chương, 48 điều. Trước yêu cầu củng cố và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức nhằm đáp ứng yêu cầu thời kì mới, cho đến nay Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã 2 lần sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức. Pháp lệnh cán bộ, công chức (được sửa đổi, bổ sung năm 2003) là sự điều chỉnh chung đối với cả cán bộ, công chức làm trong các cơ quan Đảng, đoàn thể; công chức trong các cơ quan nhà nước; công chức xã, phường, thị trấn; viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước. Sở dĩ như vậy là do hệ thống chính trị nước ta dựa trên nguyên tắc cơ bản: “Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”; Hệ thống chính trị của nước ta là hệ thống các tổ chức mà qua đó nhân dân lao động thực hiện quyền lực chính trị của mình.
Hệ thống đó bao gồm: Đảng cộng sản Việt Nam; Nhà nước Việt Nam; Mặt trận Tổ quốc; Đoàn thanh niên; Hội phụ nữ. Như vậy, mỗi một quốc gia có những quan niệm và định nghĩa khác nhau về công chức. Mặc dù có sự khác nhau, song nhìn chung các quan niệm, định nghĩa đều cho rằng một người lao động tại một quốc gia nào đó nếu có đủ các đặc trưng sau đây đều là công chức: - Là công dân của quốc gia đó. - Được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan nhà nước.
- Được xếp vào ngạch. - Được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. - Được quản lí thống nhất và được điều chỉnh bằng Luật riêng. - Thừa hành các quyền lực nhà nước giao cho, chấp hành các công vụ của nhà nước.Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Nam 6 Đội ngũ công chức là bộ phận quan trọng trong nền hành chính của một quốc gia.
Sự ra đời, phát triển của công chức là sự phát triển và hoàn thiện của nhà nước pháp quyền. Xã hội càng phát triển bao nhiêu thì càng cần một đội ngũ công chức có năng lực, trình độ chuyên môn cao bấy nhiêu để đảm bảo quản lí và thúc đẩy xã hội phát triển. Phân loại công chức Việc phân loại công chức là yêu cầu tất yếu của công tác quản lí nguồn nhân lực. Phân loại công chức giúp cho việc xây dựng quy hoạch đào tạo công chức đúng đối tượng theo yêu cầu công việc, đưa ra những căn cứ cho việc xác định biên chế một cách hợp lí và là tiền đề cho việc đề ra những tiêu chuẩn khách quan trong việc tuyển dụng công chức, xác định cơ cấu tiền lương hợp lí.
Phân loại công chức còn giúp cho việc tiêu chuẩn hoá, cụ thể hoá việc sát hạch, đánh giá thực hiện công việc của công chức. Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức, đội ngũ cán bộ, công chức được phân thành 3 loại lớn CÔNG CHỨC CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN ĐẢNG, ĐOÀN CÔNG CHỨC THUỘC CÁC CƠ QUAN DÂN (KHỐI QLNN) THỂ; CÔNG CHỨC XÃ, PHƢỜNG, THỊ CỬ, CƠ QUAN TƢ PHÁP VÀ LỰC LƢỢNG TRẤN VŨ TRANG Theo Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10-10-2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lí cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước, tại Điều 4 của Nghị định này, đội ngũ công chức được phân loại như sau: 1. Phân loại theo trình độ đào tạo: a) Công chức loại A là người được bổ nhiệm vào ngạch, yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn giáo dục đại học và sau đại học; (LUAN.Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Nam 7 b) Công chức loại B là người được bổ nhiệm vào ngạch, yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn hệ cao đẳng; c) Công chức loại C là người được bổ nhiệm vào ngạch, yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn hệ trung cấp, sơ cấp. Phân loại theo ngạch công chức: a) Công chức ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương trở lên; b) Công chức ngạch chuyên viên chính và tương đương; c) Công chức ngạch chuyên viên và tương đương; d) Công chức ngạch cán sự và tương đương; đ) Công chức ngạch nhân viên và tương đương.
Phân loại theo vị trí công tác: a) Công chức lãnh đạo, chỉ huy; b) Công chức chuyên môn, nghiệp vụ.2 Vai trò của đội ngũ công chức Hoạt động quản lí nhà nước là hoạt động tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra và điều hành mọi hoạt động trong xã hội. Đó chính là hoạt động điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người bằng quyền lực nhà nước. Hiệu lực của bộ máy nhà nước nói chung và của hệ thống chính trị nói riêng, xét cho cùng, được quyết định bởi phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực của đội ngũ công chức. Thực tiễn cho thấy, đội ngũ công chức có vai trò sau: - Công chức đóng vai trò chủ đạo trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước.
Một đất nước có đội ngũ công chức đầy đủ phẩm chất chính trị, có trình độ chuyên môn và năng lực, có tinh thần trách nhiệm cao, sẵn sàng cống hiến cho sự nghiệp xây dựng đất nước là một đất nước mạnh. - Công chức là lực lượng nòng cốt trong hệ thống chính trị, có nhiệm vụ hoạch định các chính sách, đưa các chính sách và thực hiện đường lối, (LUAN.Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Nam 8 chính sách của Đảng, Nhà nước trở thành thực tiễn và tiếp thu nguyện vọng của nhân dân, nắm bắt những yêu cầu thực tiễn của cuộc sống để phản ảnh kịp thời với cấp trên. Giúp cho Đảng và Nhà nước đề ra được những chủ trương, chính sách sát với thực tiễn. - Đội ngũ công chức là nguồn nhân lực quan trọng có vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, là một trong những nguồn nhân lực quan trọng trong việc thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.2 TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG 1.1 Khái niệm động lực và tạo động lực lao động Maier và Lawler (1973) đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau: Kết quả thực hiện công việc = Khả năng x Động lực Khả năng = Khả năng bẩm sinh x Đào tạo x Các nguồn lực Động lực = Khao khát x Tự nguyện Như vậy, động lực có tác động rất lớn đến thực hiện công việc của mỗi cá nhân.
Điều đó có thể lí giải tại sao một người bắt đầu làm việc trong tổ chức có trình độ cao nhưng kết quả thực hiện công việc lại thấp hơn kì vọng của tổ chức là do người đó đã không có động lực làm việc. Cùng với quá trình phát triển của tổ chức đòi hỏi chính mỗi thành viên trong đó phải nỗ lực không ngừng để nâng cao trình độ đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của tổ chức. Quá trình đào tạo có tác động rất lớn đến việc nâng cao khả năng của cá nhân, khi người đó có động lực càng cao thì càng muốn học tập để phát triển bản thân, và khi khả năng tăng cũng đồng nghĩa với việc tăng động lực làm việc. Theo quan điểm của tác giả: động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu (LUAN.Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Nam 9 của cá nhân và mục tiêu của tổ chức.
Động lực lao động: Là sự khao khát và tự nguyện nhằm tăng cường mọi sự nỗ lực của con người để đạt tới một mục đích và kết quả cụ thể nào đó của tổ chức. Động lực: Là nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực lao động trong những điều kiện có thuận lợi nó tạo ra kết quả cao (Từ điển kinh tế xã hội Việt Nam) Động lực: Là sự thôi thúc từ bên trong mỗi con người lao động, thúc đẩy con người hoạt động. Như vậy, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về động lực nhưng đều nói lên bản chất của động lực là những gì kích thích con người hành động để đạt tới mục tiêu nào đó. Mục tiêu của người lao động đặt ra một cách có ý thức được phản ánh bởi động cơ của người lao động và quyết định hành động của họ.
Vậy động cơ lao động là gì và được thể hiện như thế nào?