Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO VIÊN CHỨC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC CÔNG LẬP 1. Động lực và các học thuyết cơ bản về tạo động lực 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Động lực Động lực là thuật ngữ không mới, đƣợc sử dụng khá phổ biến trong khoa học cũng nhƣ trong đời sống kinh tế - xã hội hiện nay.
Thuật ngữ này thƣờng gắn với các cụm từ nhƣ: Động lực làm việc, động lực lao động, động lực học tập, động lực phát triển, tạo động lực,… Tuy nhiên, xuất phát từ những góc độ tiếp cận khác nhau, thuật ngữ này cũng đƣợc quan niệm và nhận thức khác nhau. Cho đến nay, có rất nhiều tác giả đã đƣa ra những quan niệm riêng của mình về động lực. Ở góc độ triết học, động lực đƣợc xem là yếu tố có tác dụng thúc đẩy quá trình tồn tại, vận động và phát triển của xã hội. Theo tác giả Lê Thị Kim Chi (2002), “động lực là sức tác động, có khả năng kích thích, khởi động; có năng lực chuyển hóa làm xuất hiện cái mới, thúc đẩy sự phát triển của xã hội và của con người” hay “động lực có sức cuốn hút, liên kết hoạt động của con người, những cộng đồng người sáng tạo ra lịch sử, quyết định những khuynh hướng, nhịp độ của sự tiến bộ và có tính lâu dài, phổ biến, lặp lại trong lịch sử” [4, tr.
Ở góc độ tâm lý học, hầu hết các nhà tâm lý đều xác định động lực là quá trình tâm lý gây ra các kích thích, chỉ đạo và định hƣớng hành vi, thái độ [11, tr. Điển hình là Fernald L.D, trong trích dẫn của mình, ông cho rằng: Động lực chính là cái đƣợc tạo ra từ cảm xúc, nhƣng không phải một cách trừu tƣợng và chung chung, mà khi có động lực là có tính mục tiêu và tính định hƣớng, đƣợc quyết định bởi sự tăng hay giảm của cảm xúc. Hay nhƣ 9 Luan van trong các phân tích của Kleinginna, học giả Madsen đƣa ra khái niệm ngắn gọn về động lực nhƣ sau: Động lực – đó chính là động cơ thúc đẩy hành vi. Ở góc độ quản trị học, nhiều tác giả trong nƣớc và nƣớc ngoài đã nghiên cứu và đƣa ra nhiều quan niệm khác nhau về động lực.
Theo Bedeian (1993), động lực là sự cố gắng để đạt đƣợc mục tiêu. Higgins (1994) lại cho rằng, động lực là lực đẩy bên trong mỗi cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chƣa đƣợc thỏa mãn. Trong khi đó hai tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2007) cho rằng: “động lực là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức”. Còn tác giả Lê Đình Lý (2010), lại cho rằng: “động lực của con người là sự tác động tổng hợp của các yếu tố (vật chất và tinh thần) có tác dụng thúc đẩy, kích thích sự hăng say, nỗ lực hoạt động, làm việc của mỗi người nhằm đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức” [12, tr.
Đến tác giả Nguyễn Thị Hồng Hải (2013), đã khái quát: “động lực là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép, tạo ra năng suất, hiệu quả cao” [10, tr. Mặc dù còn có những quan niệm khác nhau về động lực, song đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất: động lực là yếu tố thúc đẩy con ngƣời phấn đấu, nỗ lực, hăng say làm việc để đạt đƣợc mục tiêu nhất định. Trên cơ sở nghiên cứu có sự kế thừa các quan niệm đã có, tác giả đƣa ra quan niệm về động lực nhƣ sau: động lực làm việc có thể được hiểu là lực đẩy bên trong xuất phát từ các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người thôi thúc họ tự nguyện, nỗ lực hoạt động nhằm hoàn thành mục tiêu đặt ra với kết quả tốt nhất, từ đó góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả hoạt động của tổ chức. Tạo động lực Trong một tổ chức bất kỳ nào, tạo động lực cho ngƣời lao động luôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất nhƣng cũng khó khăn nhất đƣợc các nhà quản lý theo đuổi.
Bởi nhƣ đã phân tích, động lực là yếu tố xuất phát 10 Luan van từ bên trong nội tại của mỗi cá nhân ngƣời lao động. Vì vậy, để xuất hiện động lực làm việc thì phải tìm cách tạo ra đƣợc những động lực đó. Xung quanh vấn đề tạo động lực cũng có nhiều quan niệm khác nhau. Theo tác giả Bùi Anh Tuấn (2003), “tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc” [21, tr.
Đến tác giả Lê Thanh Hà (2009), quan niệm về tạo động lực đã đƣợc cụ thể hóa hơn, theo đó “tạo động lực là xây dựng và thực thi một hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản trị tác động đến người lao động khiến cho người lao động yêu thích và sáng tạo hơn trong công việc để đạt được kết quả tốt nhất có thể đối với mỗi nhiệm vụ cụ thể được giao”. Trong khi đó tác giả Nguyễn Thị Phƣơng Lan (2015), cho rằng: “tạo động lực là quá trình sử dụng tổng hợp cách thức, biện pháp nhằm khuyến khích, động viên, khơi dậy niềm khát khao, tinh thần tự giác, tự nguyện của người lao động để họ nỗ lực, phấn đấu cho mục tiêu hoàn thành công việc được giao với kết quả tốt nhất, qua đó góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả, sự thành công của tổ chức” [11, tr. Mặc dù có cách diễn đạt khác nhau nhƣng nhìn chung các tác giả đều thống nhất, tạo động lực chính là áp dụng các cách thức quản lý để tác động đến ngƣời lao động làm cho họ nảy sinh động lực làm việc. Do vậy, theo tác giả, tạo động lực làm việc là quá trình nhà quản lý áp dụng tổng hợp các cách thức, biện pháp khuyến khích bằng vật chất và tinh thần nhằm khơi dậy, thôi thúc, động viên người lao động tự nguyện, chăm chỉ, hăng say, nỗ lực làm việc để đạt kết quả cao nhất, từ đó góp phần tăng năng suất và hiệu quả hoạt động của tổ chức.
Có thể nói, khái niệm động lực, động cơ và tạo động lực còn có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhƣng đều thể hiện đƣợc bản chất của động lực và tạo động lực gồm những điểm nhƣ sau: Một là, động lực làm việc mang tính tự nguyện, tự giác. Nếu khi làm việc, ngƣời lao động bị ép buộc hoặc hoạt động một cách bị động chắc chắn 11 Luan van năng suất và chất lƣợng công việc sẽ không cao. Vì vậy, nhà quản lý phải có nghệ thuật để tăng cƣờng tính tự giác, tự nguyện của ngƣời lao động từ đó tạo ra động lực lao động nhằm thu đƣợc kết quả cao trong thực hiện công việc. Hai là, động lực làm việc luôn gắn liền với một công việc, một tổ chức, một môi trƣờng làm việc cụ thể, không tồn tại động lực chung chung không gắn với một công việc, một tổ chức, một môi trƣờng cụ thể nào.
Nhƣ vậy, nhà quản lý muốn tạo động lực cho ngƣời lao động thì phải hiểu rõ về công việc và môi trƣờng làm việc của họ. Ba là, động lực làm việc không phải là đặc tính cá nhân. Con ngƣời khi sinh ra không ai đã có sẵn tính cách này, nó cũng không phải là cái cố hữu mà thƣờng xuyên thay đổi. Tuỳ vào từng giai đoạn, vào từng hoàn cảnh mà mỗi ngƣời có thể có động lực làm việc rất cao nhƣng cũng có giai đoạn, hoàn cảnh chƣa chắc đã tồn tại động lực làm việc.
Bốn là, động lực làm việc có vai trò rất quan trọng trong tăng hiệu suất làm việc của ngƣời lao động trong tổ chức. Kế thừa mô hình của Marier và Lauler (1973), Carter, S., Shelton, M (2009) đã đƣa ra công thức về hiệu suất làm việc nhƣ sau [10, tr.2]: P=AxRxM Trong đó: P: Hiệu suất làm việc (Performance) A: Khả năng /năng lực làm việc (Ability) R: Nguồn lực (Resources) M: Động lực/động cơ làm việc (Motivation). Trong trƣờng hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực lao động sẽ dẫn tới năng suất hiệu quả cao hơn. Trong tất cả các nhân tố tạo ra hiệu suất làm việc thì động lực là nhân tố biến động, dễ bằng 0 nhất.
Khi động lực làm việc bằng 0 thì một ngƣời dù có khả năng làm việc tốt và có đầy đủ nguồn lực cũng có thể không thực hiện đƣợc mục tiêu. 12 Luan van Nhƣ vậy có thể thấy, bản chất của động lực xuất phát từ nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu của con ngƣời. Giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu có một khoảng cách nhất định và để rút ngắn khoảng cách đó luôn phải có động lực thúc đẩy. Vậy thực chất, tạo động lực chính là việc xác định các nhu cầu của ngƣời lao động, thỏa mãn các nhu cầu hợp lý nhằm tăng thêm lợi ích để họ tự giác, hăng say, nỗ lực và quyết tâm hơn trong quá trình làm việc để đạt đƣợc kết quả cao.
Các học thuyết cơ bản về tạo động lực Trong lịch sử phát triển của khoa học, vấn đề động lực và tạo động lực từ lâu đã đƣợc nhiều học giả nghiên cứu, từ đó cho ra đời nhiều học thuyết về tạo động lực. Mỗi học thuyết xuất phát từ những hƣớng tiếp cận khác nhau nên mang những điểm riêng biệt, có học thuyết đi sâu nghiên cứu về nhu cầu, nguồn gốc của động lực, có học thuyết lại chú trọng đến công cụ tạo động lực, trong khi đó cũng có học thuyết quan tâm đến quá trình tạo động lực. Chính điều này đã cho thấy, vấn đề tạo động lực làm việc chứa đựng nhiều yếu tố phức tạp, chịu sự chi phối của nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên dù tiếp cận theo cách nào thì các học thuyết đều có những mặt tích cực và những mặt hạn chế mang tính lịch sử nhất định.
Sau đây là nội dung nghiên cứu của một số học thuyết tiêu biểu về tạo động lực: 1. Học thuyết về phân cấp nhu cầu của Abraham Maslow (1943) Một trong những học thuyết đƣợc ứng dụng phổ biến trong tạo động lực đó chính là học thuyết về phân cấp nhu cầu của Abraham Maslow, một nhà tâm lý học ngƣời Mỹ. Thông qua nghiên cứu hệ thống nhu cầu của con ngƣời, ông cho rằng: mục tiêu, động lực thúc đẩy hoạt động của con ngƣời là nhằm thỏa mãn các nhu cầu.