Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO VIÊN CHỨC Y TẾ 1. Lý luận chung về động lực và tạo động lực làm việc 1. Động lực và tạo động lực làm việc 1. Khái niệm về động lực Động lực là thuật ngữ thường gắn với các cụm từ như: Động lực làm việc, động lực lao động, động lực học tập, động lực phát triển, tạo động lực,… Theo Từ điển Tiếng Việt, động lực được hiểu là “cái thúc đẩy làm cho phát triển” [35, tr.346], như vậy động lực là nhân tố bên trong là đòn bẩy tạo ra sự kích thích, thúc đẩy hình thành động cơ hành động của con người hướng tới sự phát triển, đạt được mục đích, kết quả đã đề ra.
Theo Bedeian (1993), động lực là sự cố gắng để đạt được mục tiêu. Higgins (1994) lại cho rằng, động lực là lực đẩy bên trong mỗi cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì động lực là: “sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức đã đặt ra” [20, tr. Từ góc độ tâm lý học, động lực được hiểu là cái tạo ra sức kích thích, thúc đẩy hành động của con người được tạo ra bởi việc thỏa mãn nhu cầu của chủ thể, động lực được tạo ra từ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó.
Dưới góc độ triết học, một số tác giả xem động lực như là những yếu tố có tác dụng thúc đẩy quá trình vận động và phát triển của xã hội như sau: “động lực là cái thúc đẩy, là cái làm gia tăng sự phát triển” [22, tr.15]; “động lực là sức tác động, có khả năng kích thích, khởi động; có năng lực chuyển hóa làm xuất hiện cái mới, thúc đẩy sự phát triển của xã hội và con người”, hay “động lực 11 phát triển xã hội là những nhân tố tác động tích cực, thúc đẩy quá trình biến đổi, làm xuất hiện cái mới trong sự vận động đi lên của xã hội” [50, tr. Như vậy, động lực trở thành chất kích thích tạo nên sự chủ động, tích cực, sáng tạo và tự nguyện và đam mê cống hiến, luôn nỗ lực để hoàn thành được mục tiêu của cá nhân cũng như tổ chức đã đặt ra. Động lực của mỗi cá nhân là kết quả được tạo nên từ các yếu tố thuộc môi trường sống và nhân tố thuộc về cá nhân đó. Vì thế, để tạo ra động lực (hành vi được thúc đẩy, khuyến khích) là kết quả của các yếu tố khách quan thuộc môi trường sống, làm việc như: văn hoá tổ chức, các chính sách và việc thực hiện các chính sách tạo ra sự kích thích tinh thần, nỗ lực làm việc của cá nhân và các yếu tố thuộc về cá nhân người lao động.
Tuy còn nhiều quan niệm khác nhau về động lực, song dưới góc độ của khoa học quản trị, đa số tác giả đều thống nhất: động lực là những cái thúc đẩy con người nỗ lực hoạt động, làm việc để đạt được mục tiêu nhất định. Biểu hiện của động lực là sự hăng say, nỗ lực của mỗi cá nhân trong quá trình thực hiện công việc. Trên cơ sở kế thừa, phát triển các quan điểm đó, tác giả đưa ra quan điểm về động lực như sau: Động lực của con người là sự tác động tổng hợp của các yếu tố (vật chất và tinh thần) có tác dụng thúc đẩy, kích thích sự hăng say, nỗ lực hoạt động, làm việc của mỗi người nhằm đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức. Khái niệm về động lực làm việc Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Trường Đại học Kinh tế quốc dân, động lực làm việc được hiểu: “là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” [20, tr142].
Khái niệm động lực làm việc này chủ yếu hướng đến đối tượng là người lao động trong các đơn vị, cơ quan, doanh nghiệp. Theo giáo trình Hành vi tổ chức của Bùi Anh Tuấn, động lực làm việc được hiểu là “những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc 12 trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực lao động là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động” [40, tr. Như vậy, động lực làm việc mang tính tự nguyện, là một trạng thái bên trong của người lao động nhằm nỗ lực đạt được năng suất lao động cao nhất có thể, phục vụ mục tiêu phát triển của tổ chức.
Động lực làm việc thể hiện dưới nhiều khía cạnh khác nhau như sự nhiệt tình, chăm chỉ, bền bỉ. Khi có động lực làm việc, người lao động sẽ cảm thấy thoải mái và tự nguyện trong thực hiện công việc. Không những họ có trách nhiệm với nhiệm vụ được giao mà còn thực hiện một cách hứng khởi, sáng tạo và mang lại hiệu quả. Động lực làm việc luôn gắn với một cá nhân cụ thể, một tổ chức, một nhiệm vụ cụ thể.
Với mỗi người lao động khác nhau, đảm nhận những nhiệm vụ khác nhau, điều kiện lao động khác nhau mà bản thân mỗi người sẽ có những nỗ lực làm việc khác nhau. Và trong mỗi thời điểm khác nhau cùng là làm việc, cùng điều kiện nhưng động lực làm việc ở các thời điểm là không giống nhau. Vì vậy các nhà quản lý có thể căn cứ vào đặc điểm này để có những tác động kịp thời nhằm phát huy nỗ lực làm việc cao nhất của viên chức/người lao động. Người lao động được coi là chìa khoá quan trọng tạo ra năng suất lao động cao cho các tổ chức, vì thế khi những người quản lý quan tâm tới tạo động lực làm việc cho người lao động thông qua việc thoả mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần sẽ kích thích tính tích cực, sáng tạo, sự chủ động, sự say mê và khát khao làm việc và cống hiến ở người lao động.
Từ những phân tích trên, tác giả xác định: Động lực làm việc là nhân tố bên trong tạo ra sự kích thích, khuyến khích người lao động hình thành động cơ và hành động tích cực, sáng tạo nhằm đạt được mục tiêu và hoàn thành nhiệm vụ được giao ở vị trí việc làm nhất định. Tạo động lực làm việc Để sử dụng nguồn nhân lực của tổ chức một cách có hiệu quả, việc tạo động lực cho người lao động trong tổ chức giữ một vai trò rất quan trọng. Tạo 13 động lực làm việc cho người lao động được hiểu là cách thức tổ chức, quản trị nhân lực một cách hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Với các chính sách tạo động lực làm việc có thể khuyến khích, động viên, thôi thúc người lao động nỗ lực, phấn đấu, cống hiến, phát huy năng lực chuyên môn của mình nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.
Tạo động lực làm việc theo Lương Văn Úc được hiểu là “tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khát khao và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức” [47, tr145]. Tác giả Bùi Anh Tuấn quan niệm “tạo động lực là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm cho người lao động có động lực làm việc” [40, tr145]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Lan (2015) quan niệm tạo động lực làm việc được hiểu là “quá trình sử dụng tổng hợp cách thức, biện pháp nhằm khuyến khích, động viên, khơi dậy niềm khát khao, tinh thần tự giác, tự nguyện của người lao động để họ nỗ lực, phấn đấu cho mục tiêu hoàn thành công việc được giao với kết quả tốt nhất, qua đó góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả, sự thành công của tổ chức” [33, tr16]. Như vậy, dưới góc độ của quản trị lao động, thì tạo động lực chính là xây dựng và thực thi chính sách, biện pháp quản trị để tác động đến người lao động.
Từ những tiếp cận ở trên, tác giả thấy rằng, tạo động lực làm việc là quá trình cơ quan, tổ chức áp dụng tổng hợp các cách thức, biện pháp khuyến khích bằng vật chất và tinh thần nhằm khơi dậy, thôi thúc, động người lao động tự nguyện, nỗ lực làm việc để đạt kết quả cao nhất, từ đó góp phần tăng năng suất và hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức. Vai trò của tạo động lực làm việc Bất cứ tổ chức nào cũng mong muốn nhân viên của mình có động lực làm việc và vì thế tạo động lực làm việc cho nhân viên là một trong những nhiệm vụ của các nhà quản lý. Mục đích cơ bản nhất của tạo động lực làm 14 việc là nhằm sử dụng một cách hợp lý nguồn lao động, khai thác một cách hiệu quả nguồn lực con người nhằm không ngừng nâng cao năng suất lao động của tổ chức. Bên cạnh đó, tạo động lực còn nhằm mục đích thu hút và gắn bó các cá nhân với tổ chức bởi vì khi người lao động có động lực làm việc thì họ sẽ hăng say với công việc, nhiệt tình và hết lòng với tổ chức.
Tạo động lực làm việc cho người lao động vì thế có ý nghĩa rất lớn đối với sự thành công của tất cả các tổ chức. Thứ nhất, đối với người lao động Động lực làm việc là một nhân tố có vai trò quyết định đến tăng năng suất bởi sức kích thích tinh thần lao động, sự tự nguyện, nỗ lực và say mê làm việc của người lao động [24, tr158]. Khi các biện pháp, chính sách và cách ứng xử của tổ chức, các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý được đề ra và thực hiện nhằm khuyến khích tinh thần, sự nỗ lực làm việc của người lao động một cách hiệu quả người lao động sẽ tự giác hình thành động cơ làm việc, tinh thần và thái độ làm việc với nỗ lực cao nhất, không ngừng hoàn thiện và phát triển trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề và luôn luôn làm việc với tinh thần, trách nhiệm và hiệu quả cao nhất. Tạo động lực việc làm được coi là yếu tố quan trọng khơi dậy sự sáng tạo, tinh thần làm việc tự nguyện, tự giác, khoa học và trách nhiệm cao ở người lao động.