phần mở đầu, kết luận, các bảng biểu phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề án bao gồm 3 Phần: Phần 1: Cơ sở xây dựng đề án về tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp Phần 2: Nội dung của đề án tạo động lực làm việc cho người lao động tại Ngân hàng TMCP Quân Đội - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt Phần 3: Các đề xuất và kiến nghị thúc đẩy tạo động lực làm việc cho người lao động tại Ngân hàng TMCP Quân Đội - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt. 5 Phần 1 CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Các khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm về động lực lao động Tại Việt Nam, quan niệm về động lực được định nghĩa theo nhiều cách. Theo Nguyễn Vân Điềm – Nguyễn Ngọc Quân (2007), động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Theo Bùi Anh Tuấn: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao”.
Như vậy, định nghĩa phổ biến khi nhắc đến động lực lao động là: “Động lực lao động là yếu tố kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, chất lượng, hiệu quả cao nhất”. Động lực lao động giúp người lao động sẵn sàng và say mê làm việc hơn. Nhờ vậy, các doanh nghiệp mới có thể thu được lợi ích lớn nhất. Động lực từ góc độ tâm lý học là những yếu tố thúc đẩy hành động để thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, có tác dụng khơi dậy tính tích cực lao động của con người.
Động lực làm việc từ góc độ quản trị là sự mong muốn và tự nguyện của cá nhân để phát huy và tự nỗ lực để đạt được những mục tiêu của cá nhân và tổ chức đề ra.2 Khái niệm tạo động lực làm việc cho người lao động Từ khái niệm về động lực lao động chúng ta thấy rằng động lực có vai trò vô cùng quan trọng, có thể nói không thể thiếu đối với người lao động và doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển. Làm thế nào để tạo ra động lực làm việc? Tạo động lực làm việc là quá trình dẫn dắt, thúc đẩy nhân viên đạt được những mục tiêu đề ra với nỗ lực cao nhất. Xét dưới góc độ quản lý thì đó là những tác động của nhà quản trị làm nảy sinh động lực trong cá nhân người lao động. Tạo động lực lao động chính là việc các nhà quản trị thực hiện một hệ thống các chính sách, giải pháp cách thức quản lý tác động tới nhân viên nhằm làm cho nhân viên có động lực trong nội dung, thúc đẩy họ hài lòng hơn với nội dung và mong muốn được tạo ra cho 6 tổ chức.
Vậy tạo động lực là một quá trình bao gồm các bước cơ bản như xây dựng, triển khai thực hiện và đánh giá kết quả tạo động lực. Các biện pháp tạo động lực với các đối tượng khác nhau do sự khác nhau về nhu cầu và sự thỏa mãn của họ.2 Nội dung tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp 1.1 Xác định và phân loại nhu cầu của người lao động A.Xác định nhu cầu của người lao động Con người ở một khoảng không gian nhất định luôn có nhiều nhu cầu khác nhau, trong những nhu cầu đó nhu cầu nào đã chín muồi sẽ là động cơ mạnh nhất quyết định hành vi của họ và khi nhu cầu đó đã được thỏa mãn thì nó sẽ không còn là động cơ thúc đẩy con người làm việc nữa mà lúc này nhu cầu mới xuất hiện sẽ đóng vai trò này. Như vậy con người ở những vị trí xã hội khác nhau, những điều kiện kinh tế khác nhau thì họ sẽ nảy sinh ra các nhu cầu khác nhau. Khi nắm bắt được nhu cầu của nhân viên, nhà quản trị tìm các biện pháp quản trị thích hợp để động viên, khuyến khích nhân viên nỗ lực làm việc.
Đó chính là bí quyết của sự thành công.Phân loại nhu cầu của người lao động - Mục đích phân loại nhu cầu của người lao động Phân loại nhu cầu của người lao động nhằm xác định thứ tự nhu cầu ưu tiên cho các nhóm đối tượng lao động khác nhau trong doanh nghiệp. Có nghĩa là thông qua việc tìm hiểu nhu cầu, sắp xếp các nhu cầu theo thứ tự ưu tiên, nhu cầu nào cấp bách, quan trọng nhất, được ưu tiên thỏa mãn trước nhưng phải đảm bảo phù hợp với mục tiêu phát triển của doanh nghiệp. - Theo hệ thống lý thuyết quản trị và động viên, thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham Maslow (1943), “Là thuyết đạt tới đỉnh cao trong việc nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người nói chung. Maslow cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên từ thấp đến cao về tầm quan trọng đó là nhu cầu cấp thấp như nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội; và nhu cầu cấp cao như nhu cầu được tôn trọng và tự hoàn thiện.
Mỗi người có một nhu cầu khác nhau và được thoả mãn bằng cách khác 7 nhau. Khi nhu cầu ở cấp độ thấp được thoả mãn thì nhu cầu ở cấp độ cao hơn sẽ trở thành lực thúc đẩy con người thực hiện một việc nào đó để thoả mãn.2 Thiết kế biện pháp tạo động lực làm việc cho người lao động Thiết kế biện pháp tạo động lực làm việc cho NLĐ nhằm tìm ra cách thức giúp doanh nghiệp chủ động đáp ứng nhu cầu của NLĐ phù hợp với thứ tự ưu tiên đã phân loại. Thiết kế biện pháp tạo động lực làm việc cho NLĐ gồm các nội dung sau: xác định đối tượng của biện pháp tạo động lực, lựa chọn các biện pháp tạo động lực. Xác định đối tượng tạo động lực Căn cứ vào định hướng kinh doanh và chiến lược phát triển bền vững của doanh nghiệp, mức độ khan hiếm của nhân lực trên thị trường lao động, dựa trên việc xác định nhu cầu và phân loại nhu cầu tạo động lực làm việc cho người lao động mà doanh nghiệp xác định đối tượng tạo động lực phù hợp.
Tuy nhiên, về chiến lược lâu dài thì doanh nghiệp cần có chính sách tạo động lực cho tất cả người lao động, tạo văn hóa làm việc vui vẻ, hứng thú, hiệu quả ở tất cả các bộ phận, có như vậy doanh nghiệp mới phát triển bền vững.Một số công việc để thực hiện các nội dung tạo động lực làm việc cho người lao động Doanh nghiệp cần thực hiện các công việc: - Ban hành các văn bản hướng dẫn: quy chế tiền lương, quyết định nâng lương, quy định về đào tạo, hướng dẫn an toàn vệ sinh lao động, những quy định về khen thưởng, đánh giá và lộ trình thăng tiến chức danh… - Xây dựng lịch trình việc triển khai; Tổ chức, phân công các bộ phận phối hợp; Xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn triển khai tạo động lực và triển khai biện pháp tạo động lực làm việc cho NLĐ theo đúng lịch trình đã xác định. - Phân công, tổ chức thực hiện: lập danh sách, gửi văn bản hướng dẫn và thông báo đến các bộ phận, các đối tượng đã xác định trong biện pháp tạo động lực, chuẩn bị các điều kiện vật chất phục vụ.3 Triển khai tạo động lực làm việc cho người lao động A.Tạo động lực bằng biện pháp tài chính 8 Tạo động lực làm việc cho người động có thể được thực hiện bằng biện pháp tài chính bao gồm: tạo động lực thông qua tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp, phúc lợi. Tạo động lực làm việc thông qua tiền lương Tiền lương là một phần thu nhập mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi hoàn thành một công việc nhất định, là động lực chủ yếu kích thích người lao động hăng hái làm việc, tăng năng suất lao động. Tiền lương một mặt tạo ra sự thoả mãn trong công việc, một mặt tạo ra sự bất mãn, ngừng trệ sản xuất nếu tiền lương không phản ánh đúng giá trị đóng góp của mỗi cá nhân người lao động.
Tiền lương cao sẽ thu hút và hấp dẫn người lao động về với doanh nghiệp. Ngoài ra tiền lương còn biểu hiện giá trị, uy tín, địa vị của người lao động, do đó tiền lương có tác dụng khuyến khích người lao động hăng hái làm việc và ngược lại nếu tiền lương không thoả đáng sẽ kìm hãm sự say mê của người lao động đối với công việc. Tiền lương luôn là mục tiêu lao động hàng đầu của đa số người lao động. Tiền lương phải là bộ phận chủ yếu trong thu nhập, phải được trả thỏa đáng và công bằng thì mới khích lệ được tinh thần làm việc và trách nhiệm của người lao động đối với tổ chức.
Tạo động lực làm việc thông qua tiền thưởng Bên cạnh hình thức khuyến khích bằng tiền lương thì tiền thưởng cũng có tác dụng kích thích lao động to lớn. Tiền thưởng thực chất là khoản tiền bổ sung cho tiền lương. Cùng với tiền lương, tiền thưởng góp phần thỏa mãn nhu cầu vật chất cho người lao động và trong chừng mực nhất định, được người sử dụng lao động sử dụng như biện pháp khuyến khích vật chất có hiệu quả đối với người lao động, nhằm tác động đến động cơ, thái độ và hiệu quả làm việc của người lao động. Khuyến khích người lao động có thể hoàn thành xuất sắc công việc đúng theo chức danh và có các đóng góp hết sức tích cực trong việc hoàn thiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp A3.
Tạo động lực làm việc thông qua Phụ cấp và các chế độ phúc lợi xã hội - Phụ cấp là một khoản đãi ngộ vật chất bên cạnh lương, tùy từng doanh nghiệp mà các loại phụ cấp khá phong phú: phụ cấp ăn trưa/ăn ca, phụ cấp xăng xe, phụ cấp điện thoại…và cũng tùy vị trí công việc của người lao động mà họ nhận phụ cấp phù hợp. Những khoản phụ cấp này thể hiện việc doanh nghiệp quan tâm đến những mặt 9 cụ thể công việc của người lao động, hỗ trợ cho công việc đặc thù bổ sung thêm để người lao động tái tạo sức khỏe, họ thấy được quan tâm. Các chương trình phúc lợi cũng là một công cụ tạo động lực có hiệu quả, tác động đến NLĐ trong tổ chức.