CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Động lực và tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp 1. Động lực làm việc Một doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển vững mạnh trên thị trường lao động phải đặc biệt chú trọng đến nguồn nhân lực. Thái độ làm việc của họ sẽ tác động rất lớn đến năng suất và hiệu quả công việc, đây là yếu tố then chốt quyết định sự thành hay bại của tổ chức.
Bởi vậy, việc tạo động lực cho NLĐ luôn là nội dung hàng đầu trong chiến lược quản trị nhân sự của các doanh nghiệp. Bùi Anh Tuấn định nghĩa: “Động lực làm việc là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động. Vroom (1964) “Động lực là trạng thái hình thành khi người lao động kỳ vọng rằng họ sẽ nhận được kết quả, phần thưởng như mong muốn nếu họ nỗ lực thực hiện công việc”.
Hay như định nghĩa của Richard M. Steers và Luciara Nardon: “Động lực làm việc là một trạng thái tinh thần và cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực của NLĐ đối với công việc của mình, bao gồm sự sẵn lòng, hào hứng và cam kết hoặc sự chán nản và phân vân”. Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về động lực làm việc nhưng tất cả đều được sinh ra từ nhu cầu cá nhân và chịu tác động của nhiều yếu tố. Nó là một trạng thái nội tại của NLĐ, gồm các lý do và mục tiêu cá nhân khiến họ sẵn sàng làm việc để mang lại năng kết quả tốt nhất.
Người lao động Theo Bộ Luật Lao động 2019, “Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo một thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành và giám sát của người sử dụng lao động”. 12 Cụ thể hơn, người lao động là những cá nhân tham gia vào các hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ, hoặc thực hiện công việc để kiếm sống. Họ đóng góp vào quá trình sản xuất và phát triển kinh tế thông qua việc cung cấp lao động và kỹ năng của mình. Bằng cách thực hiện công việc của mình, người lao động tạo ra giá trị cho tổ chức.
Tạo động lực làm việc cho người lao động Theo Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016), thì “Tạo động lực làm việc là quá trình xây dựng, triển khai thực hiện và đánh giá các chương trình, biện pháp tác động vào những mong muốn, khát khao của NLĐ nhằm thúc đẩy họ làm việc để đạt được các mục tiêu của cá nhân và tổ chức.” Với Lê Thanh Hà (2008): “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, nhà quản lý để tạo ra sự khát khao, tự nguyện của người lao động, buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu đạt được mục tiêu tổ chức đề ra.” Từ các nhận định trên có thể khái quát tạo động lực làm việc là nhiệm vụ của các nhà quản trị vận dụng hệ thống các chính sách, biện pháp quản lý làm cho họ có được động lực với công việc và mong muốn được đóng góp hay gắn bó lâu dài cùng tổ chức, doanh nghiệp. Nội dung chủ đạo của tạo động lực là thấu hiểu các kì vọng của NLĐ, từ đó thực hiện các hoạt động phù hợp, tạo ra đòn bảy kích thích người lao động làm việc hăng say, nỗ lực. Nội dung tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp 1. Xác định mục tiêu tạo động lực làm việc cho người lao động Doanh nghiệp cần tiến hành nghiên cứu và xây dựng mục tiêu của việc tạo động lực cho NLĐ một cách khôn ngoan, nhằm thúc đẩy sự gia tăng về năng suất lao động, nâng cao hiệu quả và chất lượng công việc.
Các chính sách về tạo động lực sẽ được hình thành để phục vụ các nhu cầu của người lao động, tạo động lực để họ cống hiến hết mình với tinh thần làm việc đầy nhiệt huyết và sáng tạo. Mục tiêu của việc tạo động lực đồng thời giúp NLĐ có trải nghiệm làm việc tốt, góp phần duy trì và phát triển tổ chức một cách bền vững, nhằm đạt được các mục tiêu tổng quát. Mục tiêu tạo động lực cần được thiết lập dựa trên nguyên tắc SMART, cụ thể: 13 • Mục tiêu phải tạo ra động lực. Khi đặt ra mục tiêu, phải đảm bảo mục tiêu này có thể khuyến khích NLĐ thực hiện vì nó rất quan trọng và tạo được giá trị khi hoàn thành.
• Thiết lập mục tiêu cụ thể. Mục tiêu phải rõ ràng và được xác định rõ, tránh đặt mục tiêu mơ hồ hoặc chung vì không mang lại định hướng đầy đủ. • Đặt mục tiêu đo lường được. Mục tiêu phải bao gồm khối lượng công việc chính xác, ngày tháng…để có thể đo lường mức độ hoàn thành chỉ tiêu.
• Đặt mục tiêu khả thi. Phải đảm bảo mục tiêu đặt ra có khả năng thực hiện được nếu không NLĐ sẽ dễ dàng mất tự tin và thấy nản lòng. • Đặt mục tiêu có thời hạn. Mục tiêu luôn phải có thời hạn.
Điều đó có nghĩa rằng NLĐ sẽ biết được thời điểm chính xác để thực hiện mục tiêu. Xác định nhu cầu của người lao động Mỗi cá nhân làm việc tại một tổ chức thường có xu hướng hành động dựa trên nhu cầu và mong muốn cá nhân. Nhu cầu của con người là vô cùng đa dạng và phức tạp. Theo quan điểm của Maslow, mục tiêu của con người không giới hạn chỉ ở một tầng nhu cầu, và họ luôn phấn đấu để đạt được các cột mốc khác nhau.
Các nhu cầu ở bậc thấp thường phải được đáp ứng trước, làm tiền đề để hướng tới và chinh phục các nhu cầu bậc cao. Có thể xác định và đo lường nhu cầu của NLĐ thông qua phỏng vấn trực tiếp NLĐ, lấy ý kiến khảo sát… Kết quả thu thập được giúp phân loại nhu cầu của NLĐ theo các nhóm riêng biệt. Trong mỗi tổ chức, NLĐ có những đặc điểm khác nhau về giới tính, tuổi tác, trình độ…. Vì vậy, người quản lý phải xác định những nhu cầu ưu tiên để xây dựng kế hoạch tạo động lực hiệu quả.
Các công cụ tạo động lực làm việc cho người lao động Nhóm công cụ tài chính Các yếu tố liên quan đến lương, thưởng tác động không nhỏ tới động lực làm việc ( Phạm Đức Chính, 2016) ( Mead, 1994). Những đãi ngộ về vật chất sẽ tác động 14 mạnh tới động lực, đặc biệt là những nới có thu nhập thấp ( Kovach, 1987), (Bohlander và Snell, 2016). Tiền lương: Tiền lương là số tiền mà một doanh nghiệp cần chi trả cho nhân viên dựa trên khối lượng công việc đã hoàn thành và mức độ chất lượng của nó. Đây có thể coi là nguồn thu nhập chủ yếu, nuôi sống bản thân và gia đình NLĐ.
Nếu tổ chức ban hành chính sách lương thưởng thỏa đáng cho NLĐ sẽ có tác dụng khích lệ họ nâng cao tay nghề, phát triển tính sáng tạo và tập trung tinh thần ý chí vào công việc, góp phần bảo đảm doanh thu và lợi nhận cho công ty. Để đảm bảo tiền lương thực hiện chức năng của nó một cách tối ưu, doanh nghiệp cần xem xét các yếu tố sau: Xây dựng tính công bằng trong nội bộ: Tiền lương phải dựa trên hiệu suất lao động của từng cá nhân và đảm bảo sự công bằng giữa các thành viên nhân viên. Điều này giúp thúc đẩy nhân viên làm việc đều đặn và hài lòng với những gì mà tổ chức cung cấp. Xây dựng tính công bằng bên ngoài doanh nghiệp: Bảo đảm sự công bằng trong việc thanh toán lương ngoài tổ chức, các khoản tiền cần được trả đúng hạn, việc thanh toán tiền lương phải tuân thủ đúng thời hạn và đầy đủ.
Mức lương ít nhất phải đủ để duy trì cuộc sống của NLĐ và không thấp hơn mức lương tối thiểu quy định bởi luật pháp, đồng thời phải phù hợp với mức lương trung bình trên thị trường lao động. Tiền thưởng: Tiền thưởng là khoản tiền thêm vào tiền lương, được sử dụng như một phương tiện vật chất để phục vụ các nhu cầu vật chất của NLĐ. Ngoài việc tăng thu nhập, tiền thưởng được coi là công cụ để đánh giá công việc và trách nhiệm của họ đối với nhiệm vụ được giao. Barzoki và cộng sự (2012) cho rằng, thu nhập không chỉ đáp ứng những nhu cầu cần thiết mà còn đáp ứng những nhu cầu cao của nhân viên.
Trong quá trình thiết lập chế độ khen thưởng, doanh nghiệp nên liên kết chúng với các chỉ tiêu cụ thể và thực hiện kiểm định một cách công bằng. Để thúc đẩy động lực thông qua tiền thưởng, cần lưu ý các điểm sau: 15 Tiền thưởng cần được trao tặng dựa trên thành tích cá nhân của từng người. Chỉ khi tiền thưởng được xác định một cách công bằng và hợp lý, NLĐ mới thực sự cảm nhận được giá trị của thành tựu cá nhân và tự hào về công việc của mình. Tiền thưởng phải tuân thủ những tiêu chuẩn cụ thể và các yếu cầu nhất định.
Tiền thưởng và phần thưởng liên quan trực tiếp đến kết quả lao động, và mức thưởng càng cao thì càng kích thích tình thần làm việc của nhân viên. Phúc lợi: Phúc lợi là lợi ích và tiện ích mà tổ chức cung cấp để hỗ trợ cuộc sống của NLĐ. Đây là các khoản đền bù ngoài tiền công và tiền lương, cũng như ngoài các khuyến khích tài chính. Kukanja (2013) trong nghiên cứu các nhân tố tác động đến Động lực làm việc của các nhân viên trong ngành dịch vụ du lịch tại khu vực ven biển Piran của Slovenia đã phát hiện nhân tố phúc lợi có tác động mạnh mẽ đến Động lực làm việc.
Phúc lợi và dịch vụ cho NLĐ gồm 2 loại cơ bản: lợi ích bắt buộc theo quy định của Nhà nước (bao gồm bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) và các lợi ích tương tự), và các lợi ích và dịch vụ tự nguyện mà doanh nghiệp tổ chức cung cấp, tùy thuộc vào khả năng của họ (như phúc lợi về thời gian, dịch vụ ăn uống, chỗ ở. Phúc lợi bắt buộc bao gồm BHXH được tổ chức nhằm đảm bảo rằng một phần thu nhập sẽ được bù đắp khi NLĐ gặp ốm đau, tử tuất, thai sản , thất nghiệp.