CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG, CÁN BỘ NHÂN VIÊN TRONG TỔ CHỨC 1. CÁC KHÁI NIỆM TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG, CÁN BỘ NHÂN VIÊN 1. Khái niệm động lực làm việc a. Khái niệm động lực “Động lực” là từ được nhắc đến ở hầu hết mọi lĩnh vực của cuộc sống.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về động lực như: Động lực chính là quá trình tâm lý khơi dậy định hướng và duy trì hành vi hướng đến mục tiêu Mitchell, T. Động lực còn là khuynh hướng cư xử một cách có mục đích để đạt được nhu cầu chưa được đáp ứng cụ thể (Buford, Bedeian và Linder, 1995). Maier và Lawler (1973), động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân. Kreitner (1995), động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định.
Robbins (1998), George và Jones (1999) định nghĩa động lực là một nhân tố tâm lý kích thích một cá nhân phải nỗ lực để đạt được mục tiêu cá nhân cụ thể hoặc mục tiêu của tổ chức; động lực phục vụ như một cơ chế để đáp ứng một nhu cầu cá nhân. Higgins (1994), động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn. 11 Như vây, động lực xuất phát từ chính bản thân mỗi người. Ở những vị trí khác nhau với những đặc điểm tâm lý khác nhau, động lực của mỗi người cũng khác nhau.
Khái niệm Động lực làm việc Có rất nhiều khái niệm về động lực làm việc, trong mỗi khái niệm có những quan điểm khác nhau nhưng đều làm rõ được bản chất của động lực làm việc. Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức. Bùi Anh Tuấn: “Động lực làm việc là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”.
Động lực làm việc được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức. Mỗi người lao động đảm nhiệm một công việc khác nhau có thể có động lực làm việc khác nhau để làm việc tích cực hơn. Từ những định nghĩa trên có thể rút ra cách hiểu chung nhất về động lực làm việc: “Động lực làm việc là tất cả những gì nhằm thôi thúc, khuyến khích con người nỗ lực thực hiện những hành vi theo mục tiêu". Tạo động lực làm việc Theo PGS.
Bùi Anh Tuấn: “Tạo động lực làm việc được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc”. Tạo động lực làm việc là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, nhà quản lý để tạo ra sự khát khao, tự nguyện của người lao động buộc 12 họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu nhằm đạt được các mục tiêu mà tổ chức đề ra. Các biện pháp là các đòn bẩy kích thích về tài chính, phi tài chính, cách hành xử của tổ chức, được thể hiện ở điểm tổ chức đó đối xử như thế nào với người lao động. Đây cũng là trách nhiệm và là mục tiêu của quản lý.
Bởi vì, tạo động lực là tạo ra sự hấp dẫn của công việc, của kết quả thực hiện công việc. Càng nhiều hấp dẫn thì lợi ích đem lại cho người lao động, cán bộ nhân viên càng nhiều. Chính điều này kích thích người lao động, cán bộ nhân viên càng hăng say làm việc để có thể đạt được lợi ích đó. Người lao động, cán bộ nhân viên cảm thấy hài lòng với sự hấp dẫn trong công việc, với kết quả đạt được khi hoàn thành công việc.
Họ sẽ làm việc một cách tự nguyện và đầy nhiệt huyết. Như vậy, tạo động lực làm việc là vấn đề thuộc về sự chủ động của tổ chức, các chính sách đưa ra phải được nghiên cứu, xem xét đáp ứng được nhu cầu và thúc đẩy động lực làm việc của người lao động, sẽ phải tạo ra môi trường làm việc, môi trường giao tiếp như thế nào để người lao động cảm thấy thoải mái nhất và có động lực làm việc cao nhất. Từ các khái niệm trên có thể hiểu rằng tạo động lực làm việc chính là việc các nhà quản trị vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp cách thức quản lý tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức, doanh nghiệp. NỘI DUNG TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG, CÁN BỘ NHÂN VIÊN TRONG TỔ CHỨC 1.
Một số học thuyết về tạo động lực làm việc trong lao động Có nhiều nghiên cứu về vấn đề động lực làm việc của người lao động và thông qua việc nghiên cứu các học thuyết về động lực, các công trình nghiên cứu khác có liên quan đến động lực sẽ giúp tác giả biết được những nhân tố 13 nào tác động đến động lực làm việc cho người lao động. Qua đó tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất về động lực làm việc được sử dụng trong đề tài nghiên cứu này. Học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow Maslow (1943) giả định rằng trong mỗi con người tồn tại phân cấp của năm nhu cầu từ thấp đến cao, một khi con người được thỏa mãn nhu cầu ở bậc nào đó thì họ sẽ muốn thỏa mãn nhu cầu ở bậc cao hơn. Một trong những mô hình được sử dụng rộng rãi nhất trong các nghiên cứu về động cơ cá nhân.
Để làm được điều đó Maslow (1943) đã chỉ ra rằng các quản lý cần phải có các biện pháp tìm ra và thỏa mãn nhu cầu của người lao động, khi đó sẽ tạo động lực cho người lao động và cho rằng trong mỗi con người bao giờ cũng tồn tại một hệ thống phức tạp gồm 5 nhóm nhu cầu, đó là: - Nhu cầu sinh lý; - Nhu cầu an toàn; - Nhu cầu xã hội; - Nhu cầu được tôn trọng; - Nhu cầu tự thể hiện bản thân. Mặc dù không có nhu cầu nào có thể được thỏa mãn hoàn toàn nhưng nếu một nhu cầu về căn bản được thỏa mãn thì sẽ không có tạo động lực nữa. Do vậy, khi một trong các nhu cầu trên dần được thỏa mãn về cơ bản thì các nhu cầu tiếp theo sẽ chiếm vai trò ưu thế, Maslow (1943) đã chia năm loại nhu cầu thành hai cấp bậc: - Nhu cầu ở cấp bậc thấp là nhu cầu sinh lý (ngoài công việc bao gồm được sống, hít thở, ăn, uống, ngủ, cáu giận, khao khát, che chở, tình dục và các nhu cầu cơ thể khác; trong công việc là nhiệt độ môi trường làm việc) và nhu cầu an toàn (an toàn là sự bảo vệ khỏi những tổn hại về tinh thần và thân thể như chiến tranh, ô nhiễm, bạo lực). 14 - Nhu cầu cấp bậc cao là nhu cầu xã hội (cảm giác yêu mến, sự phụ thuộc, sự chấp nhận và tình bạn), nhu cầu tôn trọng (các yếu tố bên trong như lòng tự trọng, tự do và thành tích; các yếu tố bên ngoài như địa vị, sự công nhận và sự quan tâm) và nhu cầu tự khẳng định (sự trưởng thành, đạt được tiềm năng và hoàn thành nguyện ước của mình).
Các nhu cầu bậc cao được thỏa mãn bên trong (bên trong con người) khi các nhu cầu bậc thấp dễ dàng được thỏa mãn từ bên ngoài (bởi những thứ như lương bổng, hợp đồng và chức vụ…). Học thuyết hai yếu tố của Fredeic Herzberg Herzberg (1959) là nhà tâm lý học người Mỹ, ông đã xây dựng thuyết hai nhân tố này dựa trên cuộc phỏng vấn 200 người lao động kế toán và kỹ sư từ 11 nghành công nghiệp tại khu vực Pittsburhg Pennsylvania. Kết quả liệu thu thập được Herzberg (1959) đã kết luận rằng con người có hai nhân tố cơ bản, độc lập với nhau và có ảnh hưởng tới hành vi theo cách khác nhau: - Nhân tố duy trì (Hygiene factor): Điều kiện làm việc, giám sát chất lượng, lương bổng, địa vị - vị thế, an toàn, tính chất công việc, làm việc theo nhóm, chính sách và quản lý, mối quan hệ giữa các cá nhân. - Nhân tố động lực (Motivation Factor): Thành tích, công nhận thành tích, công việc thú vị, tự chịu trách nhiệm cho công việc, tăng trưởng - trưởng thành, tiến tới nhiệm vụ cao hơn.
Bốn kịch bản của kết quả kết hợp nhân tố duy trì và nhân tố động lực: - Động lực tốt + duy trì tốt: Tình huống lý tưởng, người lao động được động viên nhiều hơn, ít có bị phàn nàn. - Động lực kém + duy trì tốt: Tình huống người lao động ít bị phàn nàn nhưng không được động viên, công việc chỉ nhận đúng tiền lương. - Động lực tốt + duy trì kém: Tình huống người lao động được động viên nhiều nhưng cũng bị phàn nàn nhiều. Tiền lương và điều kiện làm việc không 15 tương xứng.
- Động lực kém + duy trì kém: Tình huống xấu nhất, người lao động chẳng những không được động viên, mà còn bị phàn nàn nhiều. Học thuyết đã chỉ ra được một loạt các yếu tố tác động tới sự thỏa mãn và động lực của người lao động, đồng thời nó cũng ảnh hưởng cơ bản tới việc thiết kế lại công việc ở nhiều tổ chức. Tuy nhiên Học thuyết không được coi là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn. Trên thực tế đối với một số đối tượng lao động cụ thể, các yếu tố này hoạt động đồng thời chứ không tách rời nhau.
Bên cạnh đó, mặc dù nhận được sự đồng tình từ nhiều nhà nghiên cứu nhưng cũng còn nhiều điểm gây tranh cãi. Hai điểm gây tranh cãi của giới chuyên môn: Thứ nhất, thuyết này không đề cập đến sự khác biệt giữa cá nhân và tập thể; Thứ hai, thuyết cũng không định nghĩa quan hệ giữa sự hài lòng và sự động viên.