CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 1. Các khái niệm cơ bản 1. Động lực lao động 1. Động lực Theo Ths.
Nguyễn Văn Điềm: “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức”. “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao”, (PGS.TS Bùi Anh Tuấn, 2011). Khi người lao động dùng khả năng, trí tuệ hoàn thành nhiệm vụ được giao với một tư thế chủ động và đạt kết quả cao nhất thì công ty đã tạo được động lực cho họ. Động lực được hiểu là mong muốn và sự sẵn sàng hành động của con người vào nỗ lực khi họ muốn đạt được điều gì đó.
Động lực đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công việc và cuộc sống, nó sẽ thúc đẩy quá trình lao động sáng tạo của con người, giúp họ nỗ lực để đạt được mục tiêu, nguyện vọng của mình. Ngoài ra, một dạng khác biểu hiện của động lực làm việc đó là sự nhiệt tình và luôn sẵn sàng trước công việc, đón nhận công việc của công ty trong tư thế chủ động. Các thành tố của động lực Kích hoạt: Đây là yếu tố quyết định việc bắt đầu một hành vi nhất định. Chẳng hạn, bạn sẽ tham gia một lớp học, một dự án cộng đồng nào đó.
Bạn chắc chắn sẽ cần phải tự kích hoạt nó. Kiên trì: Đây là những nỗ lực bền vững, lâu dài để đạt được mục tiêu. Sự bền bỉ sẽ giúp bạn tiếp tục bất kể bạn gặp phải thất bại nào. Không kiên trì, người ta thường bỏ cuộc ngay khi gặp sự cố.
Nỗ lực cao: Tập trung và nhiệt tình là vấn đề quan trọng trong việc theo đuổi những mục tiêu đã được đưa ra trước đó. Đây cũng là yếu tố quyết định sự thành bại 16 trong một cá nhân hay tổ chức. Ví dụ, một học sinh trung bình sẽ phải nỗ lực rất nhiều để có thể đạt điểm hay thành tích của một học sinh giỏi. Tiêu chí phân loại Động lực ngoại sinh là động lực xuất phát từ bên ngoài một con người.
Động lực nội sinh là động lực xuất phát từ bên trong cá nhân. Vai trò Đối với cá nhân người lao động : - Nếu người lao động được động viên thì họ sẽ có thể làm việc một cách tốt hơn và sẽ đạt được mục tiêu nhanh chóng, dễ dàng hơn rất nhiều. - Nếu người lao động làm việc một cách tích cực thì họ sẽ tìm thấy niềm vui trong công việc họ đang đảm nhận và thoải mái hơn trong đời sống tinh thần. Đối với tổ chức: Khi được động viên, tổ chức sẽ có tâm thế chung với cách làm việc và hoạt động trên tinh thần thoải mái.
Từ đó, các nhà quản lý làm việc sẽ tích cực hơn, thúc đẩy khả năng và động lực của những người lao động. Động lực lao động a. Khái niệm Theo TS. Bùi Anh Tuấn: “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc”.
Động lực lao động là sự sẵn sàng và nhiệt tình làm việc chăm chỉ để có thể đạt được những mục tiêu đề ra trước đó trong công việc nói chung và mục tiêu của người lao động nói riêng. Định nghĩa chung nhất cho rằng “Động lực trong công việc là sự mong muốn và sẵn sàng của mỗi cá nhân làm bất cứ điều gì cần thiết để đạt được mục tiêu của cá nhân và tổ chức”. Các yếu tố thúc đẩy động lực lao động Động lực lao động được chia làm 3 loại: 17 Loại 1: Con người chính là nhân tố thúc đẩy sự làm việc của con người. Loại 2: Môi trường là yếu tố bên ngoài tác động trực tiếp và ảnh hưởng tới người lao động.
Loại 3: Vị trí chính là yếu tố chính ảnh hưởng đến công tác đãi ngộ và tiền lương của người lao động tại tổ chức. Tạo động lực lao động Theo TS. Bùi Anh Tuấn: “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc”. Trách nhiệm và mục tiêu của tổ chức là tạo động lực làm việc cho người lao động.
Các tổ chức luôn mong muốn người lao động sẽ cống hiến tất cả khả năng, trình độ và kinh nghiệm của họ cho nhu cầu phát triển tại công ty. Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể xem xét quá trình của công tác tạo động lực theo mô hình sau: Sơ đồ 1. Quá trình tạo động lực làm việc Nhu cầu Hành vi Nhu Sự căng Các Giảm không tìm cầu được thẳng động cơ kiếm được căng thỏa thỏa thẳng mãn mãn 1. Đặc điểm của tạo động lực Để đạt được những mục tiêu chung của tổ chức hay mục tiêu cá nhân của người lao động qua sự sẵn sàng nỗ lực, hăng say trong công việc.
Định nghĩa chung nhất “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức” 1. Vai trò và ý nghĩa của tạo động lực 18 Tạo động lực là một yếu tố quan trọng để giữ cho người lao động của một tổ chức làm việc và cống hiến cho công việc của họ. Tạo động lực có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm sự công nhận, sự thăng tiến, sự phát triển nghề nghiệp và trách nhiệm chuyên môn. Tạo động lực có thể cải thiện năng suất và tăng cường sự hài lòng của người lao động với công việc của họ.
Người lao động khi cảm thấy được tạo động lực sẽ có động lực và niềm đam mê để làm tốt hơn công việc, đạt được mục tiêu và đóng góp cho sự thành công của tổ chức. Ví dụ khi NLĐ làm việc mệt mỏi công ty cho nghỉ ngơi và hưởng những lợi ích của người lao động sẽ giúp họ có tinh thần tốt và hoàn thành công việc, hay việc khi có kết quả cao so với kế hoạch đề ra công ty sẽ thưởng cho họ những khoản tiền. Ngoài ra, tạo động lực còn giúp tăng cường lòng trung thành của người lao động với tổ chức, giảm tỷ lệ nghỉ việc và tăng khả năng giữ chân người lao động tốt. Tạo động lực cũng có thể giúp tăng cường tinh thần cạnh tranh giữa các NLĐ và tạo ra sự phát triển hứa hẹn cho nhân viên trong tương lai.
Do đó, tạo động lực là một yếu tố rất quan trọng trong quản lý nhân sự và giúp tạo ra một môi trường làm việc tích cực và động lực cho các người lao động của tổ chức. Đối với tổ chức, vai trò của tạo động lực làm việc được thể hiện ở các khía cạnh sau: - Tối đa hóa chi phí cho doah nghiệp. Khi người lao động làm việc hiệu quả giúp doanh nghiệp tối đa hóa các chi phí và tiết kiệm được nhiều khoản đáng kể: chi phí NVL, chi phí thời gian thực hiện công việc, tuyển dụng, đào tạo mới do giảm thiểu việc người lao động nghỉ việc,. - Ổn định hoạt động sản xuất – kinh doanh.
Khi người lao động được thỏa mãn nhu cầu thì họ sẽ yên tâm làm việc cho tổ chức, từ đó hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức sẽ ổn định. 19 - Thu hút được nhiều nhân tài. Một chính sách tốt sẽ thu hút được những nhân tài cho doanh nghiệp. Người lao động luôn mong muốn làm trong một môi trường mà ở đó họ được tôn trọng, được khẳng định vị thế của mình.
Một số học thuyết về tạo động lực 1. Học thuyết nhu cầu của Maslow Học thuyết nhu cầu của Maslow đề xuất bởi Abraham Maslow, nó là một thuyết tâm lý nằm trong bài viết năm 1943 của ông "A Theory of Human Motivation" được xuất bản trong “Đánh giá Tâm lý học”. Lý thuyết của ông tương tự như nhiều lý thuyết khác trong tâm lý học về sự phát triển của trẻ em. Con người, một số trong đó tập trung mô tả các giai đoạn phát triển của con người.
Sau đó, ông đã tạo ra một hệ thống phân loại dựa trên việc phản ánh nhu cầu chung của xã hội và những cảm xúc có được nhiều hơn. Học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow được sử dụng để nghiên cứu cách mọi người thực sự tham gia vào động cơ hành vi. Tháp nhu cầu của Maslow Nhu cầu sinh lý: Là các nhu cầu cơ bản để duy trì sự sống nó thể hiện qua nhu cầu về đồ ăn, thức uống, nơiở haynhững nhu cầu khác của cơ thể. 20 Nhu cầu an toàn: đó là việc con người mong muốn sự chắc chắn, và luôn đảm bảo rằng họ được bảo vệ khỏi những điều bất trắc và luôn đảm bảo cuộc sống ổn định.
Nhu cầu xã hội: Họ được đảm bảo kết bạn và giao tiếp, thông qua đó họ có thể biểu hiện được tình cảm của mình với người khác. Nhu cầu được tôn trọng: Là nhu cầu có địa vị, được người khác công nhận và tôn trọngmình và nhu cầu tự tôn trọng mình. Nhu cầu tự hoàn thiện: Đây là nhu cầu tự trưởng thành và phát triển, nó sẽ biến những năng lực củamình trở thành thành tích và có ý nghĩa và sáng tạo. Học thuyết này cho rằng nhu cầu này được thỏa mãn thì nhu cầu tiếp theo sẽ trở nên quan trọng.
Sự thỏa mãn sẽ đi theo cấp bậc từ thấp đến cao. Chính vì vậy, người quản lý cần phải hiểu nhân viên của mình biết được họ đang cần nhu cầu nào và đáp ứng họ và thỏa mãn nhu cầu đó từ đó tạo ra động lực. Học thuyết động cơ của Frederick Winslow Taylor FW Taylor (1856 - 1916) là một thợ cơ khí ở Hoa Kỳ, làm quản đốc, kỹ sư trưởng và kỹ sư trưởng. Ông nói: Ai cũng muốn tích lũy (tích lũy bằng tiền), người, dù là công nhân hay quốc gia, đều đang tích cực làm việc để kiếm tiền.
Tiền là động lực thúc đẩy và chi phối mọi hoạt động của con người, vì vậy tiền là động lực chủ yếu của người lao động. FW Taylor tin rằng con người có những đặc tính giống như máy móc.