Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC TRONG TỔ CHỨC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm công chức Tại Việt Nam, ngày 13 tháng 11 năm 2008, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XII, đã thông qua Luật Cán bộ, công chức. Khoản 2, điều 4, Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [22]; 1.
Khái niệm động lực làm việc Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Th. Nguyễn Vân Điềm – PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức”[10, tr. Theo TS Bùi Anh Tuấn trường Đại học Kinh tế quốc dân: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [25, tr.
Từ góc độ tâm lý học, động lực được hiểu là: “Cái thúc đẩy hành động, gắn 9 liền với việc thỏa mãn nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó” [9, tr. Có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về động lực làm việc là: Động lực làm việc là tất cả những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực đó là là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người tham gia làm công việc đó. Khái niệm tạo động lực làm việc cho người lao động “Tạo động lực làm việc được hiểu là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức” [27, tr.145] Tạo động lực làm việc là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật… nhất định để kích thích người lao động làm việc một cách tự nguyện, hăng say, nhiệt tình và có hiệu quả hơn trong công việc.
Tạo động lực làm việc cho CBCC có ý nghĩa rất lớn đối với hiệu quả hoạt động của tổ chức hành chính Nhà nước; Từ cách hiểu về động lực làm việc nêu trên thì: Tạo động lực làm việc là hệ thống các chính sách, biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động thực thi nhiệm vụ để đạt được các mục tiêu của tổ chức đề ra. Bất cứ tổ chức nào cũng muốn nhân viên của mình có động lực làm việc, do vậy tạo động lực làm việc cho người lao động là một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà quản lý. Động lực và tạo động lực làm việc đối với công chức a) Động lực làm việc đối với CC Từ những khái niệm về động lực làm việc trên, có thể hiểu: Động lực làm việc của công chức là sự khao khát, tự nguyện của cá nhân công chức, thúc đẩy hành động và hướng các nỗ lực bản thân để đạt được mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức. Suy cho cùng, động lực làm việc của công chức chính là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi công chức mà ra.
Và mục tiêu của các nhà quản lý là 10 phải làm sao để tạo ra được động lực để người công chức có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho cơ quan, tổ chức. b) Tạo động lực làm việc cho Công chức Tạo động lực làm việc luôn là vấn đề đặt ra đối với mỗi nhà quản lý nói chung và quản lý hành chính Nhà nước nói riêng. Do đó, nhà quản lý cần phải quan tâm tới cách thức và phương pháp để tạo động lực làm việc cho nhân viên. Cơ quan quản lý cũng như người quản lý cần hiểu rõ mỗi người công chức đang cần cái gì; cái gì đang động viên khuyến khích công chức, xác định biện pháp nào thích ứng trong quản lý nhằm đạt hiệu quả cao, để từ đó xây dựng hệ thống giải pháp tạo kích thích cho công chức là cần thiết để một tổ chức có thể đạt được năng suất lao động và hiệu quả công việc cao khi ở đó có những nhân viên làm việc tích cực và sáng tạo, điều này cũng không loại trừ đối với một cơ quan hành chính Nhà nước.
Chung quy lại, tạo động lực làm việc cho công chức là sự vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động đến người công chức nhằm làm cho công chức có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc, và mong muốn đóng góp cho tổ chức. c) Tạo động lực làm việc cho công chức khối Đảng, Đoàn thể Đội ngũ CC khối Đảng, Đoàn thể là chủ thể của các hành động trong quá trình thực hiện cải cách trong công tác Đảng, Đoàn thể. Họ là người thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thành quy định của pháp luật để đưa vào cuộc sống, xây dựng bộ máy quản lý và quy định về sử dụng các nguồn lực trong quá trình quản lý. Tuy nhiên, đội ngũ CC khối Đảng, Đoàn thể có năng lực, trình độ chưa hẳn đã làm cho hiệu quả quản lý công tác Đảng, Đoàn thể được nâng lên nếu bản thân người CC thiếu động lực làm việc.
Do đó, để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức hành chính Nhà nước và thực hiện thành công công cuộc cải cách công tác Đảng, Đoàn thể trước hết cần phải quan tâm tạo động lực làm việc cho họ; Tạo động lực làm việc cho CC khối Đảng, Đoàn thể chính là sử dụng những 11 biện pháp kích thích CC khối Đảng, Đoàn thể làm việc bằng cách tạo cho họ cơ hội thực hiện được mục tiêu của mình. Cụ thể phải đẩy mạnh xác định vị trí việc làm và thực hiện tuyển dụng công chức khối Đảngs, Đoàn thể theo vị trí việc làm; hoàn thiện chính sách bố trí, sử dụng công chức; rà soát, sửa đổi chương trình đào tạo, bồi dưỡng công chức; sửa đổi, hoàn thiện các quy định về đánh giá, xếp loại công chức và các quy định về thi đua, khen thưởng; kịp thời ban hành chính sách tiền lương mới; hoàn thiện các quy định về môi trường, điều kiện làm việc. Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về văn hóa công sở nhằm góp phần thúc đẩy động lực làm việc của CC khối Đảng, Đoàn thể. Những giá trị này cần được pháp lý hóa chính thức để tất cả công chức tuân thủ và thực hiện nó.
Nó cũng sẽ trở thành động lực mạnh mẽ để thúc đẩy công chức khối Đảng, Đoàn thể làm việc theo các giá trị mà công chức thừa nhận. Các học thuyết tạo động lực 1. Học thuyết nhu cầu của Maslow (Abraham Maslow) Maslow cho rằng con người có rất nhiều nhu cầu khác nhau mà họ khao khát được thỏa mãn. Maslow chia các nhu cầu đó thành năm loại và sắp xếp theo thứ bậc như sau: - Nhu cầu sinh lý (vật chất): Đó là những nhu cầu cơ bản và thiết yếu để tồn tại.
Bao gồm những nhu cầu như ăn mặc, trú ngụ dưới một mái nhà. Nhu cầu sinh lý chỉ là yếu tố bắt buộc và nhất thiết khiến người lao động phải làm việc nhưng nó thường không kích thích nhân viên đạt hiệu quả tốt hơn trong công việc của mình. - Nhu cầu về an toàn: Là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể và sự đe dọa mất việc làm, mất tài sản. - Nhu cầu xã hội (về liên kết và chấp nhận): Nhu cầu giao tiếp với người khác và gặt hái những lợi ích từ các mối quan hệ với bên ngoài xã hội, muốn có cảm giác được là thành viên của một tập thể, một hội đoàn, một nhóm bạn bè.
- Nhu cầu được tôn trọng: Là nhu cầu có địa vị, được người khác công nhận và tôn trọng và nhu cầu tự tôn trọng mình. - Nhu cầu tự hoàn thiện: Là nhu cầu được trưởng thành và phát triển, được 12 biến các khả năng, tiềm năng của mình thành hiện thực, hoặc là nhu cầu đạt các thành tích mới, nhu cầu sáng tạo. Những nhu cầu này thúc đẩy con người thực hiện những công việc nhất định để được đáp ứng. Như vậy, nhu cầu trở thành động lực quan trọng và việc tác động vào nhu cầu cá nhân sẽ thay đổi được hành vi của con người.
Dưới đây là các biểu hiện tương ứng với các cấp độ nhu cầu của người lao động Sơ đồ 1.1: Hệ thống các nhu cầu của Maslow 1. Thuyết 2 nhóm yếu tố của Herzberg Năm 1959, F.Herzberg sau khi tiến hành các cuộc phỏng vấn với người lao động ở nhiều ngành khác nhau đã rút ra nhiều kết luận rất bổ ích. Ông thấy rằng khi con người cảm thấy không thoả mãn với công việc của mình, họ rất lo lắng về môi trường mình đang làm việc, đây là nhu cầu môi trường vì chúng mô tả môi trường làm việc và bảo đảm chức năng sơ đẳng là ngăn ngừa sự chán nản công việc và các nhu cầu đó chưa bao giờ được thỏa mãn hoàn toàn nên chúng phải tiếp tục duy trì.