CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Động lực làm việc và tạo động lực làm việc 1. Động lực làm việc Qua tham khảo nhiều tài liệu cho thấy có rất nhiều khái niệm về động lực, động cơ thúc đẩy. Lê Đình Lý (2011), “động lực của con người là sự tác động để con người tự giác hơn, hăng say hơn, nỗ lực hơn trong quá trình làm việc nhằm đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức” [15, tr.23] Trong từ điển tâm lý học, Động cơ/ động lực được hiểu là : “Cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó” [7, tr.
Theo Higgins(1994) “động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng những nhu cầu chưa được thỏa mãn”.Theo Kreiner (1995) “động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo theo mục đích nhất định”. Theo Maier và Lawer “động lực là sự khát khao và tự nguyện của con người nhằm tăng cường sự nỗ lực để đạt được mục đích hay một kết quả cụ thể”. Lê Hữu Tầng (1997), “động lực là cái thúc đẩy, cái làm gia tăng sự phát triển”[19, tr. Lê Thị Kim Chi (2002) “ động lực là sức tác động, có khả năng kích thích, khởi động; có năng lực chuyển hóa làm xuất hiện cái mới, thúc đẩy sự phát triển của xã hội và con người” [2, tr.
Trong từ điển kinh tế xã hội Việt nam có ghi Động lực là nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực lao động trong những điều kiện có thuận lợi nó tạo ra kết quả cao, là sự thôi thúc từ bên trong mỗi con người lao động, thúc đẩy con người hoạt động. Sau khi phân tích một số khái niệm đã cho thấy khi nói đến động lực là nói đến một lực tác động bên trong con người có tính kích thích, khơi dậy, thôi thúc con người hành động và hướng hành hành vi của con người tới việc thỏa mãn các nhu cầu, qua đó đạt mục tiêu cá nhân. Bằng sự nghiên cứu và trên cở sở kế thừa, phát triển các quan điểm đã có tác giả luận văn cho rằng “ Động lực là một lực tác động 9 Luan van nội tại nhằm kích thích, khơi dây và định hướng hành vi của con người tới việc thỏa mãn các nhu cầu chưa đạt được ” Theo giáo trình Quản trị nhân lực của ThS.Nguyễn Vân Điềm – PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” Qua việc phân tích các khái niệm có thể thấy nhiều cách tiếp cận khác nhau về động lực làm việc nhưng cùng nói lên bản chất của động lực làm việc là những gì kích thích con người hành động để đạt tới mục tiêu nào đó. Mục tiêu của người lao động đặt ra một cách có ý thức được phản ánh bởi động cơ của người lao động và quyết định hành vi lao động.
Như vậy để có được động lực làm việc tích cực cho người lao động nhà quản lý không thể “đem” động lực “ trao” cho người lao động mà chỉ có thể tìm cách tác động, hỗ trợ để họ có động lực và tăng cường động lực làm việc một cách cao nhất. Đó chính là sứ mệnh tạo động lực làm việc của nhà quản lý cho nhân viên của mình, nhằm hỗ trợ nhân viên đạt mục tiêu cá nhân thông qua đó giải quyết mục tiêu của tổ chức.2 Các loại động lực làm việc. Có thể có nhiều cách phân loại động lực làm việc tùy vào từng tiêu chí và đưa ra các kết quả khác nhau như động lực kéo, động lực đẩy, động lực vật chất, động lực tinh thần. Trong luận văn này sau khi nghiên cứu các tài liệu thì người nghiên cứu giới hạn và định hướng nghiên cứu của mình theo cách chia của Daniel H.
Pink có thể chia các loại động lực thành 3 loại: Động lực dựa trên đáp ứng các nhu cầu căn bản, động lực dựa trên điều kiện “nếu – thì” (củ cà rốt & cây gậy), động lực tự thân. Động lực dựa trên đáp ứng các nhu cầu căn bản. Các nhu cầu căn bản liên quan đến các yếu tố thể lực của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ, sinh lý… đó là những nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày. Nhu cầu căn bản này khi chưa được đáp ứng sẽ thúc đẩy hành vi của con 10 Luan van người: ví dụ như việc không đủ ăn thì kiếm thức ăn, làm việc để có thức ăn, nhu cầu sinh lý không được đáp ứng thì tìm bạn tình, bạn khác giới để đáp ứng… Động lực dựa trên điều kiện “nếu – thì” Trong thời kỳ các nhu cầu căn bản chưa được đáp ứng thì người ta đã bắt đầu áp dụng “Cây gậy & củ cà rốt”.
Nếu làm/làm đúng thì cho ăn – củ cà rốt. Nếu không làm/làm ít/làm sai thì phạt – cây gậy. Thậm chí người ta có xu hướng không đáp ứng đầy đủ nhu cầu căn bản để dễ điều khiển. Từ phía quản lý: Luôn nghĩ ra các phần thưởng khác nhau (thưởng đột xuất, thưởng thường niên, thưởng tiền, bằng khen, vinh danh… để khích lệ người lao động, ngoài lương đã trả.
Và cũng xuất hiện vô số nhưng quy định dùng làm căn cứ trừng phạt khi người lao động sai phạm mà chủ yếu vẫn là tác động vào lợi ích kinh tế của người lao động. Từ phía người làm: Ngoài lương được nhận vẫn mong muốn được thưởng, yêu cầu phải có thưởng để khuyến khích. Ví dụ như : Cha mẹ áp dụng với con cái và con cái áp dụng ngược lại với cha mẹ ,thầy cô áp dụng với học sinh từ lớp mẫu giáo (phiếu bé ngoan, thưởng kẹo…) và trong suốt quá trình học sau này.Thậm chí được áp dụng cả trong các cuộc thi không liên quan đến nhu cầu kiếm sống như bóng đá, thi hoa hậu, các games shows. Các phần thưởng này ngày càng một lớn, thậm chí ngoài sức tưởng tượng.
Động lực tự thân Động lực tự thân là sự khao khát làm chủ, định hướng cuộc sống của mình, sự thành thạo về kiến thức kỹ năng và luôn thôi thúc tự hoàn thiện bổ sung kiến thức lao động mong muốn được ngày càng trở nên giỏi hơn, tốt hơn ở trong lĩnh vực có ý nghĩa đối với người lao động, được lao động, sáng tạo từ đó biến thành đam mê được cống hiến không vì lợi ích bản thân.300] Đó là khi đang làm việc thì niềm vui, đam mê của người lao động là từ bản thân công việc, không có suy nghĩ hay thúc dục làm vì phần thưởng hay vì để tránh hình phạt đó là động lực tự thân, khi làm đúng việc mình yêu thích, đúng khả năng, sở trường của mình.3 Tạo động lực làm việc 1.1 Đối với người lao động Để có được động lực cho người lao động làm việc thì phải tìm cách tạo ra được động lực đó. Để có thể tạo được động lực cho người lao động cần phải tìm hiểu được người lao động làm việc nhằm đạt được mục tiêu gì và thiết lập nên những mục tiêu thiết thực vừa phù hợp với mục tiêu của người lao động vừa thoả mãn được mục tiêu của tổ chức. Sử dụng các biện pháp kích thích về vật chất lẫn tinh thần từ đó thúc đẩy động cơ lao động của họ tạo động lực cho lao động. Nhưng để đề ra được những mục tiêu phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của người lao động, tạo cho người lao động sự hăng say, nỗ lực trong quá trình làm việc thì nhà quản lý phải biết được mục đích hướng tới của người lao động sẽ là gì.
Việc dự đoán và kiểm soát hành động của người lao động hoàn toàn có thể thực hiện được thông qua việc nhận biết động cơ và nhu cầu của họ. Nhà quản lý muốn nhân viên trong tổ chức của mình nỗ lực hết sức vì tổ chức thì họ phải sử dụng tất cả các biện pháp khuyến khích đối với người lao động đồng thời tạo mọi điều kiện cho người lao động hoàn thành công việc của họ một cách tốt nhất. Khuyến khích bằng vật chất lẫn tinh thần, tạo ra bầu không khí thi đua làm việc trong nhân viên có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của tổ chức. Các nhà quản lý đã từng nói “Sự thành bại của tổ chức thường phụ thuộc vào việc sử dụng hợp lý nhân viên trong tổ chức đó như thế nào” Như vậy tạo động lực làm việc là vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp và thủ thuật quản lý tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có được động lực để làm việc.
Nói theo một cách khác chính là sử dụng tất cả biện pháp kích thích nhằm tạo ra động cơ cho người lao động làm việc bằng cách tạo cho họ cơ hội thực hiện được những mục tiêu của mình.2 Đối với lãnh đạo quản lý - chủ thể tạo động lực làm việc Lãnh đạo quản lý là một chức năng cơ bản của quản trị, nói cách khác nhiệm vụ của nhà lãnh đạo quản lý là quản trị mọi yếu tố thuộc nguồn lực của tổ chức bằng các quyết định quản lý để đưa tổ chức đạt được mục tiêu đã định trong đó có hoạt động 12 Luan van quản trị nguồn nhân lực. Tất cả các chức năng quản trị sẽ không hoàn thành tốt nếu các nhà lãnh đạo quản lý không thấu hiểu và quản trị tốt yếu tố con người. Một trong những hoạt động lãnh đạo của các nhà lãnh đạo quản lý là quá trình tác động đến con người sao cho họ cố gắng một cách tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Các nhà lãnh đạo không chỉ đứng đằng sau để thúc đẩy, mà còn phải đặt mình lên trước, đưa ra những chỉ dẫn cần thiết động viên mọi người hoàn thành mục tiêu đã đề ra.
Việc lãnh đạo phải dựa trên sự hiểu biết về động cơ của con người là gì và điều gì làm cho người lao động thỏa mãn khi họ góp sức vào việc hoàn thành các mục tiêu của tổ chức.