phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng tạo động lực cho nhân viên của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Quản lý Tòa nhà Việt. Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện công tác tạo động lực cho nhân viên Công ty Trách nhiệm hữu hạn Quản lý Tòa nhà Việt. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tạo động lực lao động 1.
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Động lực và tạo động lực cho ngƣời lao động là một chủ đề quan trọng đƣợc quan tâm nghiên cứu bởi nhiều học giả nƣớc ngoài. Ngay từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, với mục đích kích thích và tăng cƣờng hiệu xuất làm việc, hiệu quả lao động, các nhà nghiên cứu lý thuyết thuộc trƣờng phái cổ điển trên thế giới đã tập trung vào các nghiên cứu về phân công, chuyên môn hoá công việc để có thể tổ chức lao động một cách chặt chẽ và hiệu quả nhất. Chính những nghiên cứu đặt nền móng này đã khiến cho khoa học quản trị nói chung, quản lý nguồn nhân lực nói riêng phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ 20 và thế kỷ 21. Các học giả nổi tiếng nghiên cứu về động lực và tạo động lực có thể kể đến nhƣ Frederick Winslow Taylor (1911) với Lý thuyết về cây gậy và củ cà rốt; Học thuyết này của W.Taylor là một luồng ánh sáng mới, một cuộc cách mạng tinh thần vĩ đại trong bối cảnh lịch sử cuộc cách mạng công nghiệp ngƣời công nhân lệ thuộc trở thành nô lệ của máy móc và cách thức quản lý coi công nhân nhƣ những “con cừu” và ông chủ chỉ cần ngƣời công nhân có “sức khỏe và sự ngu dốt của một con bò mộng”, theo đó thì lần đầu tiên quản lý và chuyên môn hóa lao động đƣợc trình bày một cách khoa học và có hệ thống.
Tiếp nối những thành quả đó, những tác giả nhƣ Abraham Harold Maslow (1943) với Tháp nhu cầu khi chia ra nhu cầu của con ngƣời đƣợc theo cấp độ tăng dần từ cao tới thấp và chỉ khi nào mà ngƣời lao động đƣợc chi trả đủ để đáp ứng những nhu cầu ngày một cao của họ thì họ mới quyết định ở lại với doanh nghiệp; Douglas Mc Gregor(1960) với Lý thuyết X và Y, Fridetick Herzberg (1959)với biểu đồ hai yếu tố tạo động lực bên trong và bên ngoài của ngƣời lao động; Vroom & Brown (1964) với thuyết kỳ vọng; Adams (1965) với 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuyết công bằng. Tuỳ theo hƣớng tiếp cận khác nhau, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học ở nƣớc ngoài đều có những ƣu điểm và nhƣợc điểm nhất định, khó có thể áp dụng hoàn toàn một khung lý thuyết sẽ mang lại hiệu quả tốt nhất cho công tác tạo động lực trong tổ chức. Các nghiên cứu về lý thuyết hệ thống chung cũng đã đƣợc nghiên cứu, phát triển cho phù hợp với đặc thù của từng ngành khoa học trong những thời gian cụ thể. Các công trình nghiên cứu trong nước Những nghiên cứu về động lực, tạo động lực trong nƣớc đƣợc bắt đầu từ rất sớm, đặc biệt từ sau công cuộc đổi mới toàn diện đất nƣớc năm 1986.
Những nghiên cứu về động lực, tạo động lực, khơi dậy tiềm năng và phát huy tính tích cực của yếu tố con ngƣời trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội đƣợc tiến hành nhằm mục tiêu cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho Đảng, Nhà nƣớc trong hoạch định các chính sách, chiến lƣợc phát triển đất nƣớc. Các tác giả có thể kể tên nhƣ GS, TS Lê Hữu Tầng và GS.TS Nguyễn Duy Quý với đề tài “Vấn đề phát huy và sử dụng đúng đắn vai trò động lực của con ngƣời trong sự phát triển kinh tế - xã hội”, tác giả Nguyễn Trọng Điều với đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu cơsở khoa học hoàn thiện chế độ công vụ ở Việt Nam”. Ngoài ra, có rất nhiều luận án nghiên cứu nhƣ Luận án tiến sỹ kinh tế “Tạo động lực cho lao động quản lý trong các doanh nghiệp nhà nƣớc trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2020” của tác giả Vũ Thị Uyên (2007), luận án tiến sỹ kinh tế “Ảnh hƣởng của động lực làm việc lên hiệu quả lao động tại các công ty có vốn nhà nƣớc ở Việt Nam”của tác giả Mai Anh (2008), luận án tiến sỹ kinh tế “Chính sách tạo động lực cho cán bộ, công chức cấp xã – nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Nghệ An” của tác giả Lê Đình Lý(2012). Bên cạnh đó, rất nhiều giáo trình về công tác QLNS, trong đó có bàn về động lực và tạo động lực cho ngƣời lao động, cho công chức HCNN nhƣ Giáo trình QLNS của Đại học Kinh tế Quốc dân, Giáo trình tạo động lực của Học viện HCQG.
Qua tổng quan trên, có thể rút ra một số nhận xét: Ở trong nƣớc, vấn đề động 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lực và tạo động lực chỉ thực sự đƣợc quan tâm nghiên cứu từ sau công cuộc đổi mới đất nƣớc, với phạm vi nghiên cứu từ rộng (vấn đề động lực, tạo động lực trong phát huy sức mạnh nguồn nhân lực của Quốc gia) đến hẹp (vấn đề động lực, tạo động lực trong phát huy sức mạnh nguồn nhân lực ở một địa phƣơng, cơquan, tổ chức, công ty). Các nghiên cứu đã cung cấp tƣơng đối đầy đủ luận cứ khoa học và thực tiễn cho công tác quản lý nhân sự ở các cấp, phát huy tính tích cực sáng tạo và hiệu quả của ngƣời lao động nói chung, đội ngũcán bộ nhà nƣớc nói riêng. Các nghiên cứu tùy theo hƣớng tiếp cận hầu hết chỉ tập trung làm rõ vai trò của một công cụ nhƣ công cụ lƣơng hoặc các công cụ khác nhƣ đào tạo bồi dƣỡng, tuyển dụng, đề bạt… nhằm khuyến khích, tạo động lực cho ngƣời lao động nói chung chứ chƣa có cách tiếp cận hệ thống, tổng thể khi phân tích các công cụ tạo động lực này, trong mối quan hệ tƣơng quan với nhau nhằm tạo ra tính hợp trội để tạo động lực cho ngƣời lao động một cách hiệu quả nhất. Định nghĩa về động lực và tạo động lực trong lao động 1.
Động lực lao động Theo Giáo trình Quản trị nhân lực của Nguyễn Vân Điềm- Nguyễn Ngọc Quân: “Động lực lao động là sự khát khao, tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”. Theo giáo trình Hành vi tổ chức của Bùi Anh Tuấn: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ bản thân ngƣời lao động”. Nhƣ vậy, có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về động lực lao động đó là: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ bản thâm ngƣời lao động”. Động lực lao động xuất hiện trong quá trình lao động và do các nhân tố bên ngòai tạo ra, là nguồn gốc dẫn đến năng suất lao động cá nhân và tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của tổ chức. Nó không phải đặc tính cá nhân. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Do vậy, muốn tạo động lực cho ngƣời lao động cho ngƣời lao động thì nhà quản lý phải nghiên cứu, tìm hiểu môi trƣờng làm việc, công việc, mối quan hệ của họ trong tổ chức từ đó tìm ra cách tạo động lực có hiệu quả cao nhất.
Tạo động lực lao động Động lực lao động là cơ sở để khiến ngƣời lao động hăng say làm việc và tăng năng suất lao động, chính vì vậy mà các nhà quản lý trong tổ chức muốn xây dựng doanh nghiệp, tổ chức mình vững mạnh thì phải dùng mọi biện pháp để tạo động lực cho ngƣời lao động trong doanh nghiệp. Nhƣ vậy, “tạo động lực lao động” đƣợc hiểu là sự kết hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và sự tự nguyện của ngƣời lao động nhằm cố gắng phấn đấu để đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức đề ra. Do đó vấn đề quan trọng của tạo động lực đó là xác định mục tiêu. Các biện pháp đƣợc đặt ra nhƣ thiết lập nên những mục tiêu vừa thiết thực, phù hợp với mục tiêu của ngƣời lao động đồng thời lại thỏa mãn đƣợc mục đích của doanh nghiệp.
Nhƣng để đề ra đƣợc những mục tiêu phù hợp với nhu cầu của ngƣời lao động, tạo cho ngƣời lao động sự hăng say trong quá trình làm việc thì nhà quản lý phải biết đƣợc mục đích hƣớng tới của ngƣời lao động tiếp theo sẽ là gì. Việc dự đoán và kiểm soát hành động của ngƣời lao động hòan toàn có thể thực hiện đƣợc thông qua việc nhận biết động cơ và nhu cầu của họ. Vai trò của công tác tạo động lực trong lao động Theo nghiên cứu, tạo động lực mang lại lợi ích cho ngƣời lao động, cho doanh nghiệp và gián tiếp mang lại lợi ích cho xã hội nhƣ sau: 1. Đối với người lao động Làm tăng năng suất lao động cá nhân: Khi có động lực lao động thì ngƣời lao động sẽ thấy yêu thích công việc và làm việc hăng say, dẫn đến năng suất lao động cá nhân đƣợc nâng cao rõ rệt.
Năng suất tăng lên khiến cho tiền lƣơng cũng đƣợc nâng cao hơn trƣớc và nhƣ vậy sẽ cải thiện thu nhập cho ngƣời lao động Phát huy được tính sáng tạo: Tính sáng tạo thƣờng đƣợc phát huy khi con 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngƣời cảm thấy thoải mái, tự nguyện khi thực hiện một công việc nào đó. Tính sáng tạo đƣợc phát huy hơn hết khi ngƣời lao động có động lực để làm việc, động lực để phát huy hết năng lực của bản thân vì công việc. Tăng sự gắn bó với công việc và công ty hiên tại: khi đã cảm thấy yêu thích và cảm nhận đƣợc sự thú vị trong công việc thì sẽ hình thành bên trong họ sự gắn bó với tổ chức hiện tại của mình.