Tạo Động Lực Cho Người Lao Động Tại Các Cơ Sở Dịch Vụ Y Tế Ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích động lực làm việc của nhân viên tại các cơ sở dịch vụ y tế ở Việt Nam, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ.

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh Tế Trung Ương

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

262
11
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

1.1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÁC CƠ SỞ DỊCH VỤ Y TẾ

1.2. HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu

1.2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.2.4. Cách tiếp cận nghiên cứu

1.2.5. Phương pháp nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÁC CƠ SỞ DỊCH VỤ Y TẾ

2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÁC CƠ SỞ DỊCH VỤ Y TẾ

2.1.1. Khái niệm về động lực của người lao động tại các cơ sở dịch vụ y tế

2.1.2. Biểu hiện của động lực làm việc của người lao động tại các cơ sở dịch vụ y tế

2.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÁC CƠ SỞ DỊCH VỤ Y TẾ

2.2.1. Khái niệm về tạo động lực cho người lao động tại các cơ sở dịch vụ y tế

2.2.2. Công cụ tạo động lực cho người lao động tại các cơ sở dịch vụ y tế

2.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tạo động lực cho người lao động tại các cơ sở dịch vụ y tế

2.3. MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CÔNG CỤ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÁC CƠ SỞ DỊCH VỤ Y TẾ ÁP DỤNG CHO VIỆT NAM

2.3.1. Lựa chọn mô hình đánh giá

2.3.2. Các giả thuyết nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÁC CƠ SỞ DỊCH VỤ Y TẾ Ở VIỆT NAM

3.1. THỰC TRẠNG CÁC CƠ SỞ DỊCH VỤ Y TẾ VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÁC CƠ SỞ DỊCH VỤ Y TẾ Ở VIỆT NAM

3.1.1. Khái quát hệ thống y tế, cơ sở dịch vụ y tế ở Việt Nam

3.1.2. Thực trạng phát triển các cơ sở dịch vụ y tế ở Việt Nam

3.1.3. Thực trạng người lao động tại các cơ sở dịch vụ y tế ở Việt Nam

3.2. THỰC TRẠNG ĐỘNG LỰC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÁC CƠ SỞ DỊCH VỤ Y TẾ Ở VIỆT NAM

3.2.1. Thời gian làm việc

3.2.2. Năng suất và hiệu quả công việc

3.2.3. Ý thức kỷ luật cao trong công việc

3.2.4. Tính chủ động sáng tạo trong công việc

3.2.5. Sự hài lòng với công việc

3.2.6. Về lòng trung thành với công việc

3.2.7. Đánh giá chung về động lực làm việc của người lao động

3.3. THỰC TRẠNG TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÁC CƠ SỞ DỊCH VỤ Y TẾ Ở VIỆT NAM

3.3.1. Sử dụng công cụ kinh tế

3.3.2. Tạo cơ hội học tập và phát triển nghề nghiệp

3.3.3. Cải thiện môi trường làm việc

3.3.4. Nâng cấp điều kiện làm việc

3.3.5. Tác động từ nhà quản lý

3.3.6. Thúc đẩy thông qua mối quan hệ với đồng nghiệp

3.3.7. Tạo động lực thông qua danh tiếng (sự tự hào)

3.3.8. Tạo động lực thông qua đóng góp cho xã hội

3.4. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CÔNG CỤ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÁC CƠ SỞ DỊCH VỤ Y TẾ Ở VIỆT NAM

3.4.1. Kết quả ước lượng và kiểm định mô hình đánh giá

3.4.2. Xác định mức độ ảnh hưởng từ kết quả ước lượng mô hình

3.5. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÁC CƠ SỞ DỊCH VỤ Y TẾ Ở VIỆT NAM

3.5.1. Những kết quả đạt được

3.5.2. Một số hạn chế, yếu kém

3.5.3. Nguyên nhân của một số hạn chế, yếu kém

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÁC CƠ SỞ DỊCH VỤ Y TẾ Ở VIỆT NAM

4.1. BỐI CẢNH VÀ ĐỊNH HƯỚNG TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÁC CƠ SỞ DỊCH VỤ Y TẾ THỜI GIAN TỚI

4.1.1. Bối cảnh có liên quan đến sự phát triển và tạo động lực cho người lao động tại các cơ sở dịch vụ y tế ở Việt Nam thời gian tới

4.1.2. Định hướng tạo động lực cho người lao động trong các cơ sở dịch vụ y tế công lập ở Việt Nam giai đoạn tới

4.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÁC CƠ SỞ DỊCH VỤ Y TẾ Ở VIỆT NAM

4.2.1. Nhóm giải pháp từ phía Nhà nước

4.2.2. Nhóm giải pháp từ phía đơn vị chủ quản và các cơ sở dịch vụ y tế

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Những hạn chế của luận án

2. Kiến nghị hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tạo Động Lực Cho Nhân Viên Ngành Y Tế Tại Việt Nam

Tạo động lực cho nhân viên trong ngành y tế là một yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả công việc và chất lượng dịch vụ. Ngành y tế tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức, từ việc thiếu hụt nhân lực đến áp lực công việc cao. Việc hiểu rõ về động lực làm việc sẽ giúp các cơ sở y tế cải thiện môi trường làm việc và thu hút nhân tài.

1.1. Động Lực Làm Việc Trong Ngành Y Tế

Động lực làm việc trong ngành y tế không chỉ phụ thuộc vào lương thưởng mà còn liên quan đến sự hài lòng và ý nghĩa công việc. Nghiên cứu cho thấy rằng nhân viên y tế cần cảm thấy được công nhận và có cơ hội phát triển nghề nghiệp.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Động Lực Trong Ngành Y Tế

Động lực làm việc có ảnh hưởng lớn đến chất lượng dịch vụ y tế. Nhân viên có động lực cao thường làm việc hiệu quả hơn, từ đó cải thiện sự hài lòng của bệnh nhân và nâng cao uy tín của cơ sở y tế.

II. Thách Thức Trong Việc Tạo Động Lực Cho Nhân Viên Ngành Y Tế

Ngành y tế tại Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc tạo động lực cho nhân viên. Những thách thức này bao gồm áp lực công việc, thiếu nguồn lực và chính sách đãi ngộ chưa hợp lý. Việc nhận diện và giải quyết những vấn đề này là rất cần thiết.

2.1. Áp Lực Công Việc Cao

Nhân viên y tế thường phải làm việc trong môi trường áp lực cao, đặc biệt trong các tình huống khẩn cấp. Điều này có thể dẫn đến sự kiệt sức và giảm động lực làm việc.

2.2. Thiếu Hỗ Trợ Từ Chính Sách

Chính sách đãi ngộ chưa hợp lý và thiếu sự hỗ trợ từ cấp trên có thể làm giảm động lực của nhân viên. Cần có những chính sách rõ ràng và công bằng để khuyến khích nhân viên.

III. Phương Pháp Tạo Động Lực Cho Nhân Viên Ngành Y Tế

Để tạo động lực cho nhân viên trong ngành y tế, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này không chỉ bao gồm cải thiện điều kiện làm việc mà còn cần chú trọng đến phát triển nghề nghiệp và tạo cơ hội học tập.

3.1. Cải Thiện Môi Trường Làm Việc

Môi trường làm việc an toàn và thoải mái sẽ giúp nhân viên cảm thấy hài lòng hơn. Cần đầu tư vào cơ sở vật chất và trang thiết bị để nâng cao chất lượng làm việc.

3.2. Tạo Cơ Hội Phát Triển Nghề Nghiệp

Cung cấp các khóa đào tạo và cơ hội thăng tiến sẽ giúp nhân viên cảm thấy có giá trị và động lực hơn trong công việc. Điều này cũng giúp nâng cao trình độ chuyên môn của họ.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Tạo Động Lực Trong Ngành Y Tế

Việc áp dụng các phương pháp tạo động lực trong thực tiễn đã cho thấy nhiều kết quả tích cực. Các cơ sở y tế đã bắt đầu nhận ra tầm quan trọng của việc đầu tư vào nhân viên để nâng cao chất lượng dịch vụ.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Động Lực

Nghiên cứu cho thấy rằng những nhân viên được tạo động lực tốt có năng suất làm việc cao hơn và ít có xu hướng nghỉ việc. Điều này chứng tỏ rằng đầu tư vào động lực là cần thiết.

4.2. Các Mô Hình Thành Công

Nhiều cơ sở y tế đã áp dụng thành công các mô hình tạo động lực, từ đó cải thiện đáng kể sự hài lòng của nhân viên và bệnh nhân. Những mô hình này có thể được nhân rộng trong toàn ngành.

V. Kết Luận Về Tạo Động Lực Cho Nhân Viên Ngành Y Tế

Tạo động lực cho nhân viên trong ngành y tế là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Việc cải thiện động lực làm việc không chỉ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành y tế tại Việt Nam.

5.1. Tương Lai Của Ngành Y Tế

Ngành y tế cần tiếp tục đầu tư vào việc tạo động lực cho nhân viên để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Điều này sẽ giúp ngành y tế phát triển bền vững trong tương lai.

5.2. Khuyến Nghị Chính Sách

Cần có những chính sách rõ ràng và hiệu quả để tạo động lực cho nhân viên. Các cơ sở y tế nên xem xét áp dụng các mô hình thành công từ các nước khác để cải thiện tình hình hiện tại.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

25/07/2025
Luận án tiến sĩ tạo động lực cho người lao động tại các cơ sở dịch vụ y tế ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÁC CƠ SỞ DỊCH VỤ Y TẾ 1. Các công trình nghiên cứu về nguồn gốc hình thành động lực Thuyết kỳ vọng của Vroom trong tác phẩm “Work and Motivation” cho rằng, động lực làm việc của người lao động là kết quả của sự kết hợp giữa sự hấp dẫn của phần thưởng với sự mong đợi đạt được và phương tiện mà họ nhận được (Vroom, 1964). Theo đó, động lực thúc đẩy con người thực hiện hành vi xuất phát từ sự mong đợi vào mục tiêu và những cơ hội mà họ nhận thức sẽ hoàn thành được. Nghiên cứu “The effects of performance on job satisfaction” nhấn mạnh, mức độ của động lực phụ thuộc vào giá trị của phần thưởng và khả năng nhận được phần thưởng (Porter và Lawler, 1968).

Mô hình động lực thúc đẩy chủ yếu dựa trên thuyết kỳ vọng của Vroom, nó cũng đã xem xét đến cả khả năng thực hiện của mỗi người có ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi thực hiện công việc nhằm đạt được phần thưởng. Nghiên cứu “Social found ations of thought and action: A social cognitive theory” cho rằng, con người thực hiện hành vi không chỉ là vì những gì mà họ nhận được mà còn dựa trên nhận thức, đánh giá về hiệu quả của hành vi mà mỗi người có thể nhận được (Albert Bandura, 1986). Skinner giải thích động lực bằng việc đưa ra các khái niệm củng cố, thưởng và phạt. Tức là, nếu một cá nhân nào đó liên tục được được khen thưởng bởi một hành vi nào đó thì họ sẽ có xu hướng lặp lại hành vi đó và phát triển thành thói quen, thậm chí trở thành đặc trưng trong hành động của mình và ngược lại (Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm, 2004).

Các nghiên cứu này thống nhất, nhận thức của người lao động về những đòi hỏi và phần thưởng từ phía tổ chức sẽ quyết định sự hình thành 8 và mức độ động lực hơn là những nhân tố tác động từ bên trong mỗi cá nhân. Vì vậy, một số nghiên cứu đã xem xét cơ sở hình thành động lực dựa trên nhu cầu xuất phát từ bên trong mỗi cá nhân. Nghiên cứu “A Theory of Human Motivation” nhấn mạnh, có 5 loại nhu cầu cơ bản và được xếp theo thứ tự tăng dần từ, nhu cầu sinh lý; nhu cầu an toàn; nhu cầu được công nhận; nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện bản thân (Abraham Maslow,1943). Theo đó, khi con người được thỏa mãn các nhu cầu bậc thấp thì mới xuất hiện nhu cầu cấp cao hơn.

Tương tự trong nghiên cứu “Existence, relatedness, and growth: Human needs in organizational settings” cũng đưa ra, hành vi của con người bị thôi thúc bởi nhu cầu tồn tại, nhu cầu giao tiếp và nhu cầu tăng trưởng của (Alderfer, 1972). Cũng theo hướng này, McClelland cũng chỉ ra 3 nhu cầu mà con người mong muốn được thỏa mãn trong công việc là (1) nhu cầu thành đạt, (2) nhu cầu khẳng định và (3) nhu cầu quyền lực, nhưng nghiên cứu này chưa đề cập đến sự khác nhau về nhu cầu ở những nền văn hóa, môi trường làm việc khác nhau (McClelland, 1961). Nghiên cứu "The Motivation of Works" chia động lực thành hai nhóm bên trong và bên ngoài. Người lao động bị thôi thúc thực hiện các hành vi nhằm thỏa mãn các nhu cầu của mình: Nhu cầu về thành tích, nhu cầu về liên kết, nhu cầu về năng lượng (Herzberg và Snyderma, 1959).

Đồng quan điểm đó, nghiên cứu "Work Motivation in Organizational Behavior: Upper Dadle River" cho rằng, động lực làm việc là một tập hợp năng lượng làm việc có nguồn gốc từ bên trong và cả bên ngoài của một cá nhân (Pinder, 1998). Tuy nhiên, cả hai tác giả này đều chưa đề cập đến sự khác biệt của hai nhóm nhân tố này theo đặc điểm cá nhân hay đặc thù nghề nghiệp. Cuốn sách “Hoạt động - Ý thức - Nhân cách (bản dịch)” nhấn mạnh, động lực làm việc của con người xuất phát từ nhu cầu và có mối quan hệ chặt chẽ với nhu cầu (Leonchiev, 1989). Vì vậy, theo tác phẩm “Development theory” thì động lực làm việc gắn liền với các yếu tố thuộc môi trường hoạt động của con người (Vygotsky, 2014).

Nghiên cứu “A motivational approach to self: Integration 9 in personality” nhấn mạnh, khi nhu cầu không được đáp ứng, người lao động sẽ tiến hành thực hiện các hành vi để dẫn đến thỏa mãn nhu cầu đó (Deci và Ryan, 1991). Các nghiên cứu này tuy đã chỉ ra được nhu cầu và động lực làm việc phải gắn với môi trường làm việc, điều kiện cụ thể nhưng lại thiếu gắn với đặc điểm cá nhân, ngành nghề cụ thể, đề cao mức độ của các nhu cầu xuất phát từ bên trong con người sẽ quyết định sự hình thành và mức độ của động lực làm việc… Từ đó, xuất hiện một trường phái khác nghiên cứu sự hình thành động lực trong mối quan hệ tác động giữa bên trong và bên ngoài mỗi cá nhân. Nghiên cứu“Self - Determination theory of Motivation and Performance Management Systems” chỉ ra rằng, người lao động không chỉ cần những phần thưởng, mà còn vì được cống hiến, vì cảm thấy hạnh phúc trong công việc. Nghĩa là, người lao động sẽ thực hiện hành vi một cách tự giác (Lan Guo, 2007).

Sheldon trong nghiên cứu “What is satisfying about satisfying events? Testing 10 candidate psychological needs” chỉ ra, việc xác định rõ nội dung mục tiêu sẽ thúc đẩy việc theo đuổi mục tiêu (Sheldon và cộng sự, 2001). Theo đó, mục tiêu càng rõ nét thì động lực sẽ càng mạnh mẽ nhằm đạt được mục tiêu. Do vậy, nghiên cứu về động lực không dừng ở nghiên cứu về nhu cầu mà chuyển sang nghiên cứu về mục tiêu (Deci và Ryan, 2002). Các nghiên cứu này tập trung giải thích động lực được sinh ra bởi các tác động từ bên trong và bên ngoài và đề cao các tác động từ bên trong hơn và tập trung vào bản chất của động lực còn các nghiên cứu trước hướng vào hình thức/biểu hiện của động lực.

Tóm lại, các nghiên cứu đề cập đến nguồn gốc sinh ra động lực của con người là xuất phát từ nhu cầu, nhu cầu chưa được thỏa mãn sẽ hình thành mục tiêu cần hướng tới và động lực xuất hiện. Kết quả của các nghiên cứu này dừng ở việc chỉ ra nguồn gốc hình thành động lực mà chưa bàn đến mức độ mạnh yếu, diễn biến của động lực, các nhân tố nào có thể tác động đến động lực, cho nên đã xuất hiện một số tác giả tiếp tục nghiên cứu về động lực của con người theo những hướng mới này. Các công trình nghiên cứu về quá trình hình thành động lực Theo hướng nghiên cứu này có các tác giả như: Maslow, Leonchiev, Weiner, Kreitner và Kinicki…, đều tiếp cận quá trình hình thành động lực theo diễn biến tâm lý của con người. Tuy nhiên, Leonchiev, Weiner và Maslow chỉ lý giải quá trình từ nguồn gốc sinh ra động lực đến khi xuất hiện hành vi và kết quả hành vi.

Còn Kreitner và Kinicki thì tiến xa hơn khi tiếp tục chỉ ra diễn biến của động lực sau khi đã có kết quả của hành vi. Thuyết nhu cầu của Maslow có thể giải thích tốt cho quá trình hình thành động lực (Maslow, 1943). Chính sự đòi hỏi về thỏa mãn nhu cầu sẽ dẫn đến các hành động của con người. Leonchiev cho rằng, động lực chính là cái thúc đẩy và định hướng hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu, kết quả đạt được sẽ quyết định mức độ thỏa mãn, từ đó sẽ xuất hiện những xúc cảm tương ứng (Leonchiev, 1989).

Kreitner và Kinicki trong nghiên cứu “Organizational Behavior” cho rằng, nhu cầu không được thỏa mãn tạo ra sự căng thẳng bên trong mỗi cá nhân, thúc đẩy hành vi tìm kiếm nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể mà nếu đạt được sẽ thỏa mãn nhu cầu và dẫn đến giảm căng thẳng, giảm động lực (Kreitner và Kinicki, 2007; Kreitner và Kinicki, 2009). Ngoài ra, còn một số nghiên cứu về nhân tố tác động tới quá trình hình thành động lực như: Ryan, Locke và Latham, Deci và Ryan, Elliot & Dweck, và Weiner. Các nghiên cứu này chỉ ra mức độ của nhu cầu, nhận thức và mục tiêu của con người quyết định đến quá trình hình thành động lực. Thuyết thiết lập mục tiêu được trình bày bởi Locke và Latham, xem xét các mục tiêu cá nhân như yếu tố chính kích thích hành vi (Locke và Latham, 1990).

Mức độ khó khăn và chuyên biệt của mục tiêu tác động đến mức độ hành vi và kết quả hành vi, mức độ cam kết theo đuổi mục tiêu cũng có ảnh hưởng tới quá trình hình thành động lực(Locke và Latham, 2002). Deci và Ryan trong nghiên cứu“The “what” and “why” of goal pursuits: Human 11 needs and the self-determination of behavior” cho rằng, theo đuổi mục tiêu là một trong những yếu tố cốt lõi ảnh hưởng tới động lực (Deci và Ryan, 2000). Thiết lập mục tiêu là một công cụ thúc đẩy và tạo động lực (Elliot và Dweck, 2005). Weiner trong nghiên cứu “Human Motivation” khẳng định, con người nhận thức được những thiếu hụt của những nhu cầu cần được đáp ứng sẽ bộc lộ những cảm xúc, thái độ với sự thiếu hụt đó, và ý chí sẽ quyết định mức độ thúc đẩy các hành vi nhằm thỏa mãn các nhu cầu đó (Weiner, 1980).

Nghiên cứu của Kreitner và Kinicki đã được tác giả (Bùi Anh Tuấn, 2002) khái quát lại thành quá trình hình thành động lực làm việc như sau: Nhu cầu Các Nhu cầu Giảm Sự Hành không- động lực nhu cầu, căng vi tìm được thỏa được xuất giảm thẳng kiếm mãn thỏa mãn hiện động lực (1) (2) (3) (4) (5) (6) Sơ đồ 1.1: Quá trình hình thành động lực làm việc Nguồn: Bùi Anh Tuấn, 2002 Như vậy, có thể thấy, các nghiên cứu trên chỉ rõ về quá trình hình thành động lực làm việc nhưng chỉ tập trung vào những nhân tố bên trong và cho rằng nó sẽ quyết định mức độ của hành vi, mà bỏ qua các nhân tố bên ngoài như, nhận thức về trách nhiệm của bản thân với công việc, đặc thù nghề nghiệp, hay những yêu cầu từ phía tổ chức… Vì vậy, xuất hiện một trường phái thu hút các nhà nghiên cứu theo hướng nghiên cứu các nhân tố tác động tới động lực để có những hướng tác động nhằm tạo động lực làm việc. Các công trình nghiên cứu về tạo động lực cho người lao động 1. Các nghiên cứu về vai trò của tạo động lực đối với tổ chức Các nghiên cứu về vai trò, tầm quan trọng của tạo động lực đối với tổ chức có các tác giả như, Maier và Lauler, Bedeian, Kreitner, Zimmer, Gracia, 12 APostolou.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ