Chương 1: Cơ sở lý luận chung về việc tạo động lực cho người lao động. Chương 2: Thực trạng công tác tạo động lực cho người lao động trong Công ty TNHH MTV XD Lũng Lô 3. Chương 3: Kiến nghị một số giải pháp góp phần tạo động lực cao hơn nữa cho người lao động tại Công ty TNHH MTV XD Lũng Lô 3.3 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về việc tạo động lực cho ngƣời lao động 1. Các khái niệm cơ bản 1.
Động lực Thuật ngữ “động lực” được bắt nguồn từ khái niệm “động cơ”. Hoạt động của con người bao giờ cũng có những động cơ nhất định nào đó. Khi có động cơ mạnh, con người sẽ hoạt động tích cực còn khi có động cơ yếu, con người sẽ hoạt động kém tích cực. Có thể hiểu “động lực” là sự khao khát và tự nguyện của con người để nâng cao mọi nỗ lực của mình nhằm đạt được mục tiêu hay kết quả cụ thể nào đó [9; tr.
Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Động lực xuất phát từ chính bản thân con người nên mỗi người có động lực làm việc khác nhau. Động lực luôn luôn thay đổi theo thời gian. Ở mỗi vị trí khác nhau, thời điểm khác nhau, những mục tiêu, mong muốn của con người cũng khác nhau.
Vấn đề động lực trong lao động là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản trị nhân sự trong doanh nghiệp, nó thúc đẩy người lao động hăng say làm việc nâng cao năng suất lao động. Suy cho cùng động lực trong lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi người lao động mà ra. “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [16; tr.
Như vậy mục tiêu của các nhà quản lý là phải tạo ra được động lực để người lao động có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức. Tạo động lực Động lực là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến hành vi của con người và hiệu suất làm việc. Đó là chìa khóa để quản lý các (LUAN.3 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 hành động và là một công cụ hiệu quả, năng động để tạo cảm hứng cho lực lượng lao động, tạo ra sự tự tin trong họ. Để tạo động lực thúc đẩy nhân viên làm việc một cách hiệu quả, nhà quản lý phải hiểu được động cơ nào đang thúc đẩy họ làm việc hay họ làm việc để thỏa mãn nhu cầu gì.
Tạo động lực cho người lao động là một yêu cầu rất thực tế. Nhà quản trị muốn người lao động nỗ lực hết sức vì tổ chức thì họ phải sử dụng các biện pháp tạo động lực đối với người lao động đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người lao động hoàn thành công việc của họ một cách tốt nhất. Công ty nói riêng và các tổ chức nói chung rất cần đến sự đóng góp nhiệt tình, cống hiến hết lòng của người lao động. Ở chiều ngược lại thì người lao động sẽ được tổ chức mang đến những thỏa mãn về nhu cầu vật chất và tinh thần.
Công tác tạo động lực cho người lao động thực chất là hoạt động đầu tư mà cả hai bên đều sẽ có lợi. Tóm lại, tạo động lực là những hoạt động (các chính sách, biện pháp, cách thức,.) mà các nhà quản lý tác động đến người lao động nhằm thúc đẩy họ tham gia và làm việc với hiệu quả cao nhất đem lại lợi ích cho cá nhân họ và đóng góp lớn nhất cho tổ chức, doanh nghiệp [9; tr. Từ đó duy trì và phát huy năng lực của họ một cách tốt nhất, đem lại hiệu quả làm việc cao nhất. Một số học thuyết về tạo động lực cho ngƣời lao động 1.
Thuyết phân cấp nhu cầu của Abraham Maslow Thuyết này chia nhu cầu của con người thành 05 loại và sắp xếp theo thang bậc từ nhu cầu bậc thấp đến nhu cầu bậc cao [12; tr. Đầu tiên là nhu cầu cơ bản nhất: nhu cầu sinh học. Khi nhu cầu này chưa được đáp ứng ở mức tối thiểu thì các nhu cầu sau ít hình thành. Tiếp đến là nhu cầu về an ninh an toàn, nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu được tôn trọng và cao nhất là nhu cầu tự thể hiện.
Theo Maslow, khi nhu cầu nào đó được thỏa mãn đầy đủ thì nó không còn là động cơ thúc đẩy nữa. Bên cạnh đó, nhu cầu bậc cao chỉ hình thành khi nhu cầu bậc thấp được đáp ứng ở mức nào đó.3 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 - Nhu cầu sinh học: Đây là những nhu cầu cơ bản nhất của con người như: ăn, mặc, ở, đi lại. Nhu cầu này thường được gắn chặt với đồng tiền, nhưng tiền không phải là nhu cầu của họ mà nó chỉ là phương tiện cần có để họ thoả mãn được nhu cầu. Đồng tiền có thể làm cho con người thoả mãn được nhiều nhu cầu khác nhau, vì vậy các nhà quản lý luôn nhận biết được rằng đại đa số những người cần việc làm đều nhận thấy “tiền” là thứ quyết định.
Họ luôn quan tâm tới họ sẽ nhận được cái gì khi họ làm việc đó. - Nhu cầu an ninh an toàn: Một số nhà nghiên cứu nhu cầu này của Maslow và cho rằng nhu cầu an toàn không đóng vai trò nhiều trong việc tạo động lực cho người lao động nhưng điều đó không chính xác. Khi người lao động vào làm việc trong doanh nghiệp họ sẽ quan tâm rất nhiều đến công việc của họ thực chất là làm gì, điều kiện làm việc ra sao, công việc có an toàn hay không. Sự an toàn không chỉ đơn thuần là những vấn đề về tai nạn lao động mà nó còn là sự bảo đảm trong công việc, các vấn đề về bảo hiểm xã hội, trợ cấp, hưu trí.
- Nhu cầu được thừa nhận: Khi những nhu cầu về sinh lý và an toàn đã được thoả mãn ở một mức độ nào đó thì con người nảy sinh ra những nhu cầu cao hơn, lúc này nhu cầu xã hội sẽ chiếm ưu thế. Người lao động khi sống trong một tập thể họ muốn hoà mình chung sống hoà bình và hữu nghị với các thành viên khác trong tập thể. - Nhu cầu được tôn trọng: Nhu cầu này thường xuất hiện khi con người đã đạt được những mục tiêu nhất định, nó thường gắn với các động cơ liên quan đến uy tín và quyền lực. - Nhu cầu tự thể hiện: Theo Maslow thì đây là nhu cầu rất khó có thể nhận biết và xác minh.
Con người thoả mãn nhu cầu này theo nhiều cách rất khác nhau. Trong doanh nghiệp nhu cầu này được thể hiện chính là việc người lao động muốn làm việc theo chuyên môn, nghiệp vụ, sở trường của (LUAN.3 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 mình và ở mức cao hơn đấy chính là mong muốn được làm mọi việc theo ý thích của bản thân mình. Lúc này nhu cầu làm việc của người lao động chỉ với mục đích là họ sẽ được thể hiện mình, áp dụng những gì mà họ đã biết, đã trải qua vào công việc hay nói đúng hơn là người ta sẽ cho những người khác biết được khả năng của mình qua công việc. Thuyết ERG của Clayton Alderfer Trong hệ thống phân cấp nhu cầu của Maslow, Clayton Alderfer thấy rằng có một số sự chồng chéo và không rõ ràng.
Năm 1969, ông đã phát triển khái niệm cơ bản của Maslow thành thuyết ERG (Existence, Relatedness and Growth) hay còn gọi là thuyết nhu cầu "Tồn tại/Quan hệ/Phát triển". Thuyết ERG nhận ra 3 kiểu nhu cầu chính của con người: - Nhu cầu tồn tại: Ước muốn khỏe mạnh về thân xác và tinh thần, được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu căn bản để sinh tồn như các nhu cầu sinh lý, ăn, mặc, ở, đi lại, học hành. và nhu cầu an toàn. - Nhu cầu giao tiếp: Ước muốn thỏa mãn trong quan hệ với mọi người.
Mỗi người đều có những ham muốn thiết lập và duy trì các mối quan hệ cá nhân khác nhau. Ước tính một người trong cuộc đời thường bỏ ra khoảng phân nửa quỹ thời gian để giao tiếp với các quan hệ mà họ hướng tới. - Nhu cầu phát triển: Đây là ước muốn tăng trưởng và phát triển cá nhân trong cả cuộc sống và công việc. Các công việc chuyên môn và cao hơn nữa là sự nghiệp riêng sẽ đảm bảo đáp ứng đáng kể sự thoả mãn của nhu cầu phát triển.
Thuyết ERG cho rằng: tại cùng một thời điểm có thể có nhiều nhu cầu ảnh hưởng đến sự động viên. Khi một nhu cầu cao hơn không thể được thỏa mãn thì một nhu cầu ở bậc thấp hơn sẵn sàng để phục hồi. Thuyết ERG của Alderfer cũng chỉ ra rằng thường xuyên có nhiều hơn một nhu cầu có thể ảnh hưởng và tác động trong cùng một con người, vào cùng một thời gian.3 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 những nhu cầu ở mức cao không được đáp ứng đủ, khao khát thoả mãn những nhu cầu ở mức dưới sẽ tăng cao. Thuyết ERG giải thích được tại sao các nhân viên hay tìm kiếm mức lương cao hơn và điều kiện làm việc tốt hơn ngay cả khi những điều kiện này là tốt và đạt các tiêu chuẩn của thị trường lao động.
Khi các nhân viên chưa cảm thấy thỏa mãn với nhu cầu giao tiếp và nhu cầu tăng trưởng hiện tại, họ sẽ tìm cách được thỏa mãn. Học thuyết hai yếu tố về động cơ của Frederic Herzberg Lý thuyết gia quản trị người Hoa Kỳ, ông Frederick Herzberg giải thích sự thúc đẩy con người một cách hoàn toàn khác. Ông đưa ra hai tập hợp các yếu tố thúc đẩy công nhân làm việc và gọi tập hợp thứ nhất là "yếu tố duy trì". Nhóm này chỉ có tác dụng duy trì trạng thái tốt, ngăn ngừa các "chứng bệnh"; tuy nhiên chúng không làm cho con người làm việc tốt hơn.
Các yếu tố này bao gồm lương bổng, sự quản lý, giám sát và điều kiện làm việc. Tất cả mọi công nhân đều mong muốn nhận được tiền lương tương xứng với sức lực của họ, công ty được quản trị một cách hợp lý và điều kiện làm việc của họ được thoải mái. Khi các yếu tố này được thỏa mãn, đôi khi những người công nhân lại coi đó là điều tất nhiên.