CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG TÁC TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Giới thiệu khái quát về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Động lực cho người lao động là một yếu tố cần thiết giúp người lao động làm việc đạt hiệu quả cao, nâng cao hiệu quả kinh doanh và gắn bó lâu dài với doanh nghiệp. Vì vậy công tác tạo động lực cho người lao động là một trong những hoạt động mà doanh nghiệp cần chú trọng. Việc tìm hiểu khái niệm, nội dung và vai trò của tạo động lực lao động trong doanh nghiệp, nắm chắc các biện pháp để tạo động lực cho người lao động luôn luôn có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn với nhiều đối tượng khác có liên quan.
Nhận thức được sự cần thiết của vấn đề này, nhiều học viên cao học, nghiên cứu sinh, các nhà khoa học…ở Việt Nam trong các lĩnh vực kinh tế, quản trị kinh doanh, quản trị nhân sự đã đi sâu nghiên cứu và có những công trình đóng góp thiết thực cho các doanh nghiệp về công tác tạo động lực cho người lao động. Liên quan đến nội dung tạo động lực lao động trong doanh nghiệp có một số các luận án và luận văn được công bố. Trong đó có Luận án tiến sĩ:“ Tạo động lực cho lao động quản lí trong doanh nghiệp nhà nước ở Hà Nội đến năm 2020” của Vũ Thị Uyên (Đại học kinh tế quốc dân, 2008). Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác tạo động lực cho lao động quản lí, đề xuất quan điểm về động lực lao động, lựa chọn mô hình tổng thể để chỉ ra cách tiếp cận với tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp nhà nước.
Luận án cũng phân tích thực trạng lao động cho lao động quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước ở Hà Nội, chỉ ra những ưu nhược điểm của các biện pháp tạo động lực lao động tại các doanh nghiệp này, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tạo động lực lao động quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước ở Hà Nội đến năm 2020 để thực sự khẳng định vai trò chủ đạo của 4 doanh nghiệp nhà nước trong thời kỳ phát triển kinh tế mới của Hà Nội đến năm 2020. Luận án có đưa ra các biện pháp để giúp cho doanh nghiệp nhà nước có thể giữ chân được nhân tài hoạt động trong các lĩnh vực chủ chốt và hạn chế hiện tượng “chảy máu chất xám” của lực lượng lao động giỏi ra những doanh nghiệp nước ngoài. Tuy nhiên nội dung của luận án chỉ đề cập đến công tác tạo động lực cho lao động quản lí, là đối tượng lao động có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng tốt, làm công tác quản lý trong doanh nghiệp. Luận văn thạc sỹ “Tạo động lực cho người lao động tại Công ty Bảo Việt Sơn La” của Vũ Quang Hưng (Đại học Kinh tế Quốc dân, 2011).
Luận văn đã hệ thống hóa lý luận về tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp. Thông qua nghiên cứu thực trạng, Luận văn mô tả và phân tích, làm rõ thực trạng công tác tạo động lực cho người lao động tại Công ty Bảo Việt Sơn La. Trên cơ sở đó, đưa ra những đánh giá về những điểm mạnh, điểm yếu cùng những nguyên nhân đang tồn tại trong hoạt động kinh doanh tại Công ty. Luận văn đưa ra những phương hướng cùng hệ thống các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống công cụ tạo động lực cho người lao động tại Công ty Bảo Việt Sơn La nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Tuy nhiên những giải pháp này chưa đầy đủ cần được nghiên cứu và hoàn thiện hơn. Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác tạo động lực ở Công ty TNHH cửa sổ nhựa Châu Âu ” của Đỗ Thị Thu ( Đại học Kinh tế quốc dân, 2008). Luận văn cũng hệ thống hóa lý luận về tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp. Luận văn có phân tích thực trạng công tác tạo động lực lao động ở Công ty TNHH cửa sổ nhựa Châu Âu đồng thời tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tạo động lực lao động cho công ty.
Luận văn đã đề cập đến khá đầy đủ các nội dung của tạo động lực lao động cả ở phần cơ sở lí luận và thực trạng của công ty, nhưng các nghiên cứu của tác giả về tạo động lực lao động chưa sâu. Chủ yếu tác giả mới chỉ tập trung phân tích thực trạng công tác tạo động lực bằng việc sử dụng bằng các kích thích vật chất như tiền lương, tiền thưởng, biểu dương, khen thưởng và các kích thích tinh thần như bố trí, phân công công việc và khuyến khích từ điều kiện làm việc. Đồng thời, luận văn có phân tích được một số nhân tố ảnh hưởng tới tạo động lực lao động của công ty nhưng phân tích chưa cụ 5 thể và chi tiết. Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động tại Tổng công ty xi măng Việt Nam” của Mai Quốc Bảo ( Đại học Kinh tế quốc dân, 2010).
Luận văn đã hệ thống hóa những lý luận cơ bản về động lực lao động và tạo động lực cho người lao động và chỉ ra cách tiếp cận với tạo động lực cho người lao động. Thực hiện phân tích và đánh giá thực trạng công tác tạo động lực cho người lao động tại Tổng công ty Xi măng Việt Nam. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhàm hoàn thiện công tác tạo động lực lao động tại Tổng công ty xi măng Việt Nam. Luận văn thạc sĩ “Xây dựng chính sách tạo động lực cho người lao động tại Công ty cổ phần công nghệ viễn thông – tin học” của Trần Thị Thanh Huyền (Đại học Kinh tế quốc dân, 2005).
Luận văn đề cập đến thực trạng về chính sách tạo động lực cho người lao động ở Công ty cổ phần công nghệ viễn thông-tin học, trên cơ sở đó đề xuất xây dựng chính sách tạo động lực lao động cho công ty. Luận văn thạc sĩ “Các giải pháp nhằm tạo động lực cho nguồn nhân lực chất lượng cao của Tổng công ty Hàng không Việt Nam” của Trần Thị Thuỳ Linh (Đại học KTQD-2008). Nội dung luận văn đã nghiên cứu xu hướng biến động nguồn nhân lực chất lượng cao của Tổng công ty Hàng không Việt Nam trong những năm gần đây. Tập trung nghiên cứu các học thuyết tạo động lực cho người lao động làm cơ sở phân tích đánh giá thực tế các phương pháp tạo động lực của Tổng công ty hàng không Việt Nam.
Từ đó đề xuất các giải pháp tạo động lực nhằm xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có xu hướng hội nhập và cạnh tranh cao trong lĩnh vực hàng không. Trong các nội dung tạo động lực lao động, vấn đề tạo môi trường làm việc thuận lợi cho người lao động đóng một vai trò quan trọng. Khi được làm việc trong môi trường làm việc thuận lợi, người lao động sẽ cảm thấy thoải mái về tinh thần, giảm stress, có khả năng phục hồi khả năng làm việc cao… Qua đó, động lực lao động sẽ tăng lên. Đề cập đến vấn đề này có Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện điều kiện lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp hiện nay” của Nguyễn Thị Minh Ngọc (Đại học KTQD-1999).
Trong luận văn đã chỉ ra tầm quan trọng của việc tạo điều kiện lao động thuận lợi đối với doanh nghiệp, thực trạng về điều kiện lao động 6 trong một số doanh nghiệp công nghiệp ở nước ta và đưa ra một đề xuất để hoàn thiện điều kiện lao động trong các doanh nghiệp nước ta hiện nay. Về nội dung phân tích công việc và đánh giá thực hiện công việc, có một số luận văn cao học đã đề cập đến như : Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện hệ thống đánh giá thực hiện công việc của giảng viên trường Đại học Vinh” của Hồ Thị Diệu Ánh (Đại học KTQD – 2006); Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện đánh giá thực hiện công việc đối với lao động quản lí tại Công ty Bưu chính Liên tỉnh và Quốc tế” của Hà Thị Ngọc Anh (Đại học KTQD – 2008). Về vấn đề hoàn thiện công tác tiền lương, có một số luận văn cao học và luận án tiến sĩ đã đề cập đến trên các phương diện khác nhau như: Luận án tiến sĩ “Chi phí tiền lương theo kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường” của Vũ Quang Thọ (Đại học KTQD – 1996); Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện cơ chế trả lương cho người lao động ở các doanh nghiệp thuộc ngành dệt may ở Việt Nam” của Vũ Văn Khang (Đại học KTQD – 2002); Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện cơ chế quản lí tiền lương và thu nhập đối với người lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước” của Đào Thanh Hương (Đại học KTQD – 2003); Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện công tác quản lí tiền lương trong ngành điện lực Việt Nam” của Trần Thế Hùng (Đại học KTQD – 2008); Luận văn thạc sĩ “Giải pháp hoàn thiện công tác trả lương tại Tổng công ty Dược Việt Nam” của Nguyễn Xuân Trường (Đại học KTQD – 2006); Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện bảng lương chức danh công việc tại Công ty Tài chính Dầu khí” của Đỗ Huy Triệu (Đại học KTQD – 2007); Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác thù lao lao động tại Công ty TNHH Niềm tin” của Phạm Phú Công (Đại học KTQD – 2006).