CHƯƠNG 1: SỰ CẦN THIẾT TĂNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH 1. Ngân sách và thu ngân sách bền vững 1. Khái niệm [13], [Tr. Ngân sách nhà nước, ngân sách địa phương Theo Luật của Quốc Hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 về ngân sách nhà nước thì Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm. Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước.
Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân. Theo Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước thì ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách tỉnh), bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Ngân sách 4 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách huyện), bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách các xã, phường, thị trấn.
Ngân sách các xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã). Nguồn thu của ngân sách địa phương gồm: (i) các khoản thu được hưởng 100% như các loại thuế có liên quan đến nhà đất, tài nguyên; thuế môn bài; thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp, tiền sử dụng đất, tiền cho thuê đất; Tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; Lệ phí trước bạ; Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết; Thu hồi vốn của ngân sách địa phương tại các tổ chức kinh tế, thu từ quỹ dự trữ tài chính của địa phương, thu nhập từ vốn góp của địa phương; Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho địa phương; Các khoản phí, lệ phí, thu từ các hoạt động sự nghiệp và các khoản thu khác nộp vào ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật ., (ii) các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương như thuế giá trị gia tăng, trừ thuế giá trị gia tăng hàng xuất nhập khẩu và thuế GTGT của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hộ kinh doanh cá thể; thuế thu nhập doanh nghiệp, trừ thuế TNDN của các đơn vị hạch toán toàn ngành và thuế TNDN của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh; thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh do cấp tỉnh quản lý; thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh do cấp huyện quản lý, thuế giá trị gia tăng của hộ kinh doanh cá thể; thuế thu nhập khác của các doanh nghiệp gồm: thu nợ thuế chuyển thu nhập, thu nhập sau thuế thu nhập; thuế thu nhập cá nhân; thuế tiêu thu đặc biệt từ hàng hóa dịch vụ trong nước, phí xăng dầu, (iii) thu bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương, (iv)thu từ huy động đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định tại khoản 3 Điều 8 của Luật NSNN. Thu ngân sách bền vững Thu ngân sách bền vững là việc thu ngân sách hiện tại không làm ảnh hưởng đến thu ngân sách trong tương lai, trong bất kỳ tình huống nào thu NSNN đều được 5 nhà nước kiểm soát một cách chủ động, trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đều không đẩy Nhà nước vào tình trạng vỡ nợ, mất ổn định, mất an toàn tài chính. Tình trạng thu ngân sách nhà nước tiến triển ổn định, an toàn, vững mạnh, không chứa đựng các nguy cơ xẩy ra mất cân đối, trong bất kỳ tình huống nào thì thu NSNN đều đựơc nhà nước kiểm soát một cách chủ động.
Thực tế cho thấy, tại nhiều nước, tuy thâm hụt ngân sách diễn ra khá thường xuyên và số dư nợ quốc gia tăng theo thời gian, song không thể kết luận ngay là tăng thu ngân sách của các nước này không bền vững, không thể nói ngay rằng các nước này có nguy cơ rơi vào khủng khoảng tài khoá, bởi thực ra đó chỉ là những khó khăn về ngân sách trong ngắn hạn. Ngược lại, có những nước tuy tình hình ngân sách đang tương đối lành mạnh, nhưng cũng không thể nói một cách chắn chắn là tăng thu ngân sách của nước đó là bền vững, bởi trong tương lai rất có thể rơi vào khủng hoảng tài khoá do hậu quả của việc thực hiện các chính sách tài khóa không hiệu quả, lãng phí hoặc nền kinh tế phát triển không bền vững, hoặc hệ thống tài chính chứa đựng nhiều nguy cơ, tiềm ẩn nhiều rủi ro, khi có những biến cố xảy ra thì khó có thể bảo đảm được tính bền vững của thu NSNN. Vì vậy để tạo ra nguồn thu bền vững cho NSNN cần phải nuôi dưỡng nguồn thu. Tăng thu bền vững cho phép mang lại những nguồn thu bền vững, nhất là những nguồn thu từ thuế đối với các doanh nghiệp trong nội bộ nền kinh tế và có thể ngày càng tăng, có khả năng đáp ứng được các nhu cầu chi một cách thuận lợi, tạo đủ nguồn cho Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn.
Tăng thu ngân sách bền vững có ý nghĩa quan trọng, chiếm vị trí then chốt trong việc bảo đảm sự bền vững của khu vực tài chính công, kéo theo là sự bền vững của cả nền kinh tế - xã hội. Tuy nhiên nguồn thu muốn tăng trưởng và bền vững hay không cũng lại phụ thuộc vào sự ổn định, bền vững nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế và phụ thuộc vào các yếu tố cấu thành nên nguồn thu. Đặc điểm thu ngân sách nhà nước Thu ngân sách nhà nước là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Mọi khoản thu của nhà nước đều được thể chế hóa bởi các chính sách, chế độ và pháp luật của nhà nước.
Thu ngân sách nhà nước là một tất yếu khách quan xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước. Thu ngân sách nhà nước thực chất là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa nhà nước và các chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực của nhà nước nhằm giải quyết hài hoà các mặt lợi ích kinh tế Thu ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chưa đựng những lợi ích chung, lợi ích công cộng; Thu ngân sách nhà nước phải căn cứ vào tình hình hiện thực của nền kinh tế; biểu hiển ở các chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội GDP, giá cả, thu nhập, lãi suất, v.; Thu ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủ yếu. Nội dung của thu ngân sách [19], [Tr.121] Thu ngân sách nhà nước có bốn nguồn thu chính sau: Thuế và các khoản thu bắt buộc, thu nhập từ tài sản có quyền sở hữu đối với tài sản, bán hàng hoá và dịch vụ, các khoản thu tự nguyện khác. Thu từ thuế: là khoản thu chiếm tỷ trọng lớn trong thu NSNN của các nước, là khoản thu bắt buộc của Chính phủ.
Thu từ thuế không bao gồm các khoản như tiền phạt và các đóng góp về an sinh xã hội. Các khoản thu còn lại thường được gộp chung vào một khoản thu không phải từ thuế, gọi là thu nhập ngoài thuế, bao gồm: các khoản đóng góp xã hội, viện trợ, thu nhập từ tài sản, bán hàng hoá và dịch vụ và khoản thu nhập khác. Các khoản đóng góp xã hội: là các khoản thu từ người sử dụng lao động thay mặt cho người lao động hoặc từ người lao động, hoặc từ người lao động tự kinh doanh, người thất nghiệp nhằm đảm bảo có quyền được hưởng các phúc lợi xã hội 7 dành cho người đóng góp, người ăn theo. Những khoản đóng góp này có thể bắt buộc hoặc tự nguyện.
Viện trợ là khoản chuyển giao không bắt buộc mà quốc gia này nhận được từ quốc gia khác hoặc từ các tổ chức quốc tế. Viện trợ có thể dưới hình thức vốn đầu tư, hoặc thu thường xuyên và được cấp bằng tiền hoặc hiện vật Thu nhập từ tài sản của Chính phủ: là các khoản thu khi Chính phủ chuyển nhượng các tài sản tài chính hoặc các tài sản phi sản xuất cho các đơn vị khác. Lãi vay, cổ tức và tiền thu từ thu tài sản là những loại chính của khoản thu này. Thu từ bán hàng hóa dịch vụ: bao gồm các khoản thu của các hoạt động theo hướng thị trường, lệ phí quản lý hành chính, doanh thu từ các khoản ngoài dự kiến của các bộ phận phi thị trường và tiền bán hàng hoá dịch vụ danh nghĩa Những khoản thu ngoài thuế khác: tiền phạt, tiền bồi thường, tiền thanh toán theo quyết định của toà án, các khoản thu tự nguyện trừ trợ cấp, bán hàng hoá hiện có bao gồm cả hàng hoá dùng trong quân sự.
Theo quan niệm của Việt Nam, theo Luật Ngân sách Nhà nước 2002 cơ cấu thu NSNN bao gồm các khoản: - Thuế, phí và lệ phí đây là khoản thu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu NSNN: Thuế là khoản đóng góp bắt buộc của các cá nhân và doanh nghiệp cho một hoạt động vì lợi ích chung.