Chương 1. Những vấn đề chung về xúc tiến đầu tư của Sở Kế hoạch và Đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp Chương 2. Thực trạng xúc tiến đầu tư của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Cao Bằng vào lĩnh vực nông nghiệp Chương 3. Phương hướng và giải pháp tăng cường xúc tiến đầu tư của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Cao Bằng vào lĩnh vực nông nghiệp 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÚC TIẾN ĐẦU TƢ CỦA SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƢ VÀO LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP 1.
Sự cần thiết và vai trò của Sở Kế hoạch và Đầu tƣ trong xúc tiến đầu tƣ vào lĩnh vực nông nghiệp 1. Tầm quan trọng của nông nghiệp ở Việt Nam Từ xa xưa cho đến nay nông nghiệp được biết đến là ngành sản xuất vật chất xuất hiện sớm nhất của xã hội loài người. Từ khi ra đời cho đến nay thì nông nghiệp luôn đóng vai trò và có vị trí quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế và đảm bảo sự tồn tại cho loài người trong quá trình phát triển. Nông nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, là ngành sản xuất ra lương thực, thực phẩm và các sản phẩm khác bằng việc trồng trọt và chăn nuôi.
Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển. Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là sự hợp thành của trồng trọt và chăn nuôi, ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm… để thỏa mãn nhu cầu của mình, còn theo nghĩa rộng bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp.[12] Vì vậy có thể hiểu “Nông nghiệp” là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản. Có thể phân loại khái niệm nông nghiệp theo hai cách như sau: 6 - Nông nghiệp thuần nông là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp chủ yếu phục vụ cho chính người sản xuất do có đầu vào hạn chế tự cung tự cấp.
- Nông nghiệp nâng cao là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được đầu tư áp dụng máy móc trong tất cả các khâu sản xuất với mức độ chuyên môn hóa cao để sản xuất ra nhiều sản phẩm chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa cung ứng cho thị trường mà mang lại thu nhập tài chính từ nông nghiệp. Trong nền kinh tế quốc dân vai trò của ngành nông nghiệp vô cùng quan trọng. Ngành nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp. Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học - kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học - cây trồng, vật nuôi.
Tầm quan trọng của nông nghiệp ở Việt Nam thể hiện trên những khía cạnh sau: - Ngành nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm cho nhu cầu xã hội: Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển. Ở những nước này còn nghèo như Việt Nam, đại bộ phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên ở những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản cuả các nước này khá lớn và không ngừng tăng, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống cho con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm. Lương thực thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Cung cấp yếu tố đầu vào cho phát triển công nghiệp và khu vực đô thị: Nông nghiệp của các nước đang phát triển là khu vực dự trữ và cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp và đô thị. Khu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến. Thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị trường… Khu vực nông nghiệp là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh 7 tế trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, bởi vì đây là khu vực lớn nhất, xét cả về lao động và sản phẩm quốc dân. Nguồn vốn từ nông nghiệp có thể được tạo ra bằng nhiều cách, như tiết kiệm của nông dân đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp, thuế nông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản…trong đó thuế có vị trí rất quan trọng.
- Làm thị trường tiêu thụ của công nghiệp và dịch vụ: Nông nghiệp và nông thôn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp. Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp, bao gồm tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp, nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp. Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập dân cư nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp tăng, thúc đẩy công nghiệp phát triển, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm của nông nghiệp và có thể cạnh tranh với thị trường thế giới. - Nông nghiệp tham gia vào xuất khẩu: Nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn.
Các loại nông, lâm thủy sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với các hàng hóa công nghiệp. Vì thế, ở các nước đang phát triển, nguồn xuất khẩu để có ngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông, lâm, thủy sản. Tuy nhiên xuất khẩu nông, lâm thuỷ sản thường bất lợi do giá cả trên thị trường thế giới có xu hướng giảm xuống, trong lúc đó giá cả sản phẩm công nghiệp tăng lên, tỷ giá kéo khoảng cách giữa hàng nông nghiệp và hàng công nghệ ngày càng mở rộng làm cho nông nghiệp, nông thôn bị thua thiệt so với công nghiệp và đô thị. - Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường: Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển bền vững của môi trường vì sản xuất nông nghiệp gắn liền trực tiếp với môi trường tự nhiên: đất đai, khí hậu, thời tiết, thủy văn.
Nông nghiệp sử dụng nhiều hoá chất như phân bón hoá học, thuốc trừ sâu bệnh…làm ô nhiễm đất và nguồn nước. Quá trình canh tác dễ gây ra xói mòn ở các triền dốc thuộc vùng đồi núi và khai hoang mở rộng diện tích đất rừng…vì thế trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, cần tìm những giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trường. Khái niệm xúc tiến đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp Từ hai khái niệm về “xúc tiến đầu tư” và khái niệm “nông nghiệp” tác giả đưa ra cách hiểu về xúc tiến đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp như sau: Xúc tiến đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp được hiểu là các biện pháp nhằm thu hút vốn đầu tư vào lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, chế biến các sản phẩm từ nông nghiệp. Các hoạt động cụ thể của xúc tiến đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp bao gồm: Giới thiệu, quảng cáo cơ hội đầu tư với các nhà đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp; tổ chức các đoàn tham quan, khảo sát tiếp xúc với các nhà đầu tư; tham gia, tổ chức các hội thảo khoa học, diễn đàn đầu tư, kinh tế trong và ngoài nước về lĩnh vực nông nghiệp; sử dụng các phương tiện truyền thông để cung cấp các thông tin nhanh chóng và giúp đỡ kịp thời các nhà đầu tư tìm hiểu cơ hội đầu tư ở địa phương mình.
Trong nghiên cứu về “Chiến lược xúc tiến FDI tại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” do công ty Price Waterhouse Coopers thực hiện vào năm 2003 dưới sự tài trợ của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), khái niệm về “xúc tiến đầu tư” được đưa ra như sau: Theo nghĩa hẹp, xúc tiến đầu tư được coi là một loạt các biện pháp nhằm thu hút vốn đầu tư thông qua một chiến lược marketing hỗn hợp bao gồm chiến lược sản phẩm (Product strategy), chiến lược giá cả (Pricing strategy) và chiến lược xúc tiến (Promotional strategy). [5] Trong định nghĩa này có một số thuật ngữ được hiểu như sau: - Chiến lược sản phẩm: Sản phẩm, theo khái niệm xúc tiến đầu tư được hiểu là chính quốc gia, địa phương tiến hành xúc tiến đầu tư, và xây dựng chiến lược sản phẩm là việc quốc gia đó xây dựng chiến lược về hình ảnh, giá trị đem lại cho nhà đầu tư. Để làm được điều này, họ cần phải nắm được những lợi thế cũng như những bất lợi nội tại của nước mình trong mối tương quan đến các đối thủ cạnh tranh. - Chiến lược giá cả: Giá cả ở đây chính là giá cả xây dựng, hoạt động của nhà đầu tư ở nước tiếp nhận, bao gồm: chi phí cố định, giá sử dụng cơ sở hạ tầng, thuế, và các khoản chi phí khác liên quan đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
9 - Chiến lược xúc tiến: Bao gồm tất cả các hoạt động nhằm phổ biến thông tin hoặc tạo dựng hình ảnh của quốc gia, địa phương đó và cung cấp các dịch vụ đầu tư đến những nhà đầu tư có triển vọng. Theo nghĩa rộng, xúc tiến đầu tư là các biện pháp để giới thiệu, quảng cáo cơ hội đầu tư với bên ngoài, các cơ quan xúc tiến đầu tư địa phương thường tổ chức các đoàn tham quan, khảo sát ở các địa phương khác và ở nước ngoài; tham gia, tổ chức các hội thảo khoa học, diễn đàn đầu tư, kinh tế ở khu vực và quốc tế.