Chương 1: NHẬN THỨC VỀ CHUYỂN ĐỔI NGÀNH NGHỀ TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ ĐÔ THỊ HÓA 1. Cơ sở lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa 1. Khái niệm cơ bản về Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa và Đô thị hóa 1. Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa (CNH - HĐH) là quá trình tạo ra những điều kiện vật chất - kỹ thuật, khoa học công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung hay cơ cấu ngành kinh tế nói riêng, nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, để không ngừng tăng năng suất lao động làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa cho nhân dân.
Từ đó thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái. Quan niệm về CNH, HĐH được Đảng Cộng Sản Việt Nam xác định tại Đại hội VIII như sau: “ Xây dựng Việt Nam trở thành một nước có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu Nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. [ 24 ] - CNH, HĐH nông nghiệp là quá trình bao gồm: Thứ nhất, là quá trình chuyển sản xuất nông nghiệp từ dựa trên lao động thủ công, kỹ thuật và công nghệ lạc hậu, sang nền nông nghiệp sản xuất dựa trên lao động trí tuệ, với kỹ thuật và công nghệ hiện đại gồm 6 nội dung: thủy lợi hóa, cơ giới hóa, điện khí hóa, hóa học hóa, tự động hóa và sinh học hóa. Thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp là công việc trực tiếp của người làm nông nghiệp, do đó người nông dân cũng phải tính toán kỹ lưỡng và có sự đầu tư thích hợp để cho quá trình đó được đẩy mạnh và đạt hiệu quả tốt.
6 z Thứ hai, là quá trình chuyển nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, phân tán, mang nặng tính tự nhiên, tự cấp, tự túc, dựa trên nền tảng quản lý lạc hậu, quản lý theo kinh nghiệm cha truyền con nối của các hộ nông dân, sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn, nền nông nghiệp gắn với thị trường trong nước và quốc tế, dựa trên nền tảng quản lý khoa học và hiện đại của các doanh nghiệp và các trang trại. Thứ ba, là quá trình chuyển cơ cấu của sản xuất nông nghiệp theo nghĩa rộng (bao gồm cả nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp); và cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo nghĩa hẹp (cơ cấu giữa trồng trọt và chăn nuôi, cơ cấu của bản thân ngành trồng trọt và bản thân ngành chăn nuôi) từ lạc hậu sang tiến bộ. Thứ tư, là quá trình chuyển nền nông nghiệp từ sản xuất chủ yếu dựa trên việc bóc lột, tàn phá và hủy hoại các nguồn lực tự nhiên là chính, sang nền nông nghiệp thân thiện với môi trường. Thứ năm, là quá trình chuyển tác phong, lối sống và cách làm việc tùy tiện của người nông dân sang theo kiểu công nghiệp, văn minh, hiện đại; sống, làm việc và học tập theo pháp luật.
- CNH, HĐH nông thôn là quá trình bao gồm: Thứ nhất, là quá trình xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn đồng bộ và hiện đại, tạo điều kiện cho kinh tế và đời sống của người dân ở khu vực này phát triển nhanh, sớm hội nhập với khu vực đô thị. Trong đó đặc biệt coi trọng hệ thống giao thông, thủy lợi, cung cấp điện, nước sinh hoạt, hệ thống thông tin liên lạc, trường học, bệnh viện, các công trình văn hóa, thể dục thể thao. Thứ hai, là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn từ lạc hậu, sang tiến bộ và hiện đại, giảm tỷ trọng của nông nghiệp, tăng tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế nông thôn. Phát triển mạnh các 7 z hoạt động phi nông nghiệp để dân nông thôn ly nông mà không ly hương.
Thứ ba, là quá trình cơ cấu lại dân cư giữa các vùng, bố trí lại dân cư, kiến trúc lại làng, xã cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, với bản sắc văn hóa của từng vùng và từng dân tộc. Thứ tư, là quá trình đổi mới và hoàn thiện thể chế chính trị - xã hội của nông thôn theo hướng dân chủ, văn minh và hiện đại. Thứ năm, là quá trình giáo dục, đào tạo và rèn luyện để giúp cho người dân nông thôn có tác phong, lối sống, cách làm việc theo kiểu công nghiệp. Đô thị hoá Hiện nay, khái niệm về đô thị hóa không còn quá xa lạ đối với một thế giới ngày càng tiếp cận với nhiều kỹ thuật và công nghệ hiện đại trong hệ thống đô thị của các quốc gia trên thế giới.
Theo từ điển Bách Khoa “Đô thị hoá là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất, bố trí dân cư, những vùng không phải đô thị trở thành đô thị”. [ 22 ] Tiền đề của đô thị hóa là sự phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ. thu hút nhiều nhân lực từ nông thôn đến sinh sống và làm việc, làm cho tỷ trọng dân cư ở các đô thị tăng nhanh. Theo từ điển Tiếng Việt (1995) “Đô thị hoá là quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị và làm nâng cao vai trò của thành thị đối với sự phát triển của xã hội”.
[21, tr 22] Nhìn chung lại đều cho rằng, do sự sản xuất của nhiều ngành công nghiệp và dịch vụ, thương mại…nhiều điểm dân cư đô thị đã hình thành. Trải qua quá trình phát triển, những điểm dân cư đó phát triển với quy mô ngày càng lớn và được trang bị bởi những tiện nghi hiện đại và kỹ thuật tiên tiến để trở thành các điểm dân cư đô thị; những đô thị đó tập trung lại trên một vùng lãnh thổ với những mối quan hệ mật thiết với nhau về kinh tế xã hội, không 8 z gian lãnh thổ, cơ sở hạ tầng, môi trường sinh thái… trên một mật độ đô thị tập trung nào đó… lúc đó quá trình đô thị hoá xuất hiện. Do đó, có thể nói: “Quá trình đô thị hoá là quá trình phát triển của một hệ thống đô thị với nhiều quy mô khác nhau, có mối quan hệ mật thiết với nhau… trên cùng một không gian lãnh thổ nhất định và một thời gian nhất định”. [ 11 ] Theo Giáo sư Ummreddy Venkateswarlu thì: “Đô thị hoá là một hệ quả tự nhiên về sự thay đổi kinh tế xảy ra vì sự phát triển của đất nước.
Với việc tăng thu nhập đầu người, làm tăng nhanh hàng hoá và thực phẩm, và tất yếu, nhu cầu về các hoạt động phi nông nghiệp cũng tăng lên. Nhu cầu tăng lao động khu vực hoạt động phi nông nghiệp này kích thích quá trình đô thị hoá. Các chùm đô thị (Agglomerations) đã trở thành khu vực kinh tế gồm các hoạt động sản xuất công nghiệp, dịch vụ và cơ sở hạ tầng. Trong quá trình phát triển đó, các khu vực đô thị phụ thuộc vào quy mô và hình thái của chúng, sự đổi mới các vùng sâu, vùng xa thông qua các mối liên kết vùng và đô thị - nông thôn.
Quá trình này và sự liên kết đó đã mở rộng các loại hình phát triển đô thị như phát triển các cực (Poles) với những khoảng cách nhất định, các loại hành lang đô thị (Corridors) và các khu vực đô thị - nông thôn liên hoàn (Urban and Rural ontinum)”. [ 11, tr 7 ] Như vậy, đô thị hoá là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp diễn ra trên một không gian rộng lớn, có thể biểu thị thông qua các yếu tố: sự tăng nhanh của tỷ lệ dân số đô thị trong tổng số dân; sự tăng lên của số lượng các đô thị đồng thời với sự mở rộng không gian đô thị; sự chuyển hoá của lao động từ giản đơn sang phức tạp, từ công cụ thô sơ sang tinh vi cũng là từ sectơ I (lao động nông, lâm, ngư) sang sectơ II (công nghiệp, thủ công nghiệp) và sang sectơ III (quản lý, nghiên cứu, dịch vụ); sự chuyển hoá từ lối sống dàn trải (mật độ thấp) sang tập trung (mật độ cao), từ điều kiện kỹ thuật 9 z hạ tầng giản đơn sang điều kiện hạ tầng kỹ thuật phức tạp. Quá trình đô thị hoá là quá trình phân bố lại cơ cấu lao động theo hướng ngày càng tăng lao động trong khu vực công nghiệp, thương mại dịch vụ; xuất hiện và phát triển một hệ thống đô thị, các khu công nghiệp, các khu thương mại. Bản chất đô thị hoá làm cho lao động phi nông nghiệp ngày càng tăng lên trong một vùng lãnh thổ với những đặc điểm địa lý, kinh tế, xã hội, sinh thái… nhất định.
Tóm lại, đô thị hoá là quá trình chuyển hoá từ dạng phân bố dân cư nông nghiệp phân tán sang dạng tổ chức các quần cư tập trung do các hoạt động phi nông nghiệp với tỷ trọng ngày càng cao của dân số sống và làm việc trong khu vực đô thị. Đô thị hoá xuất hiện hàng loạt những thay đổi về mặt kinh tế - xã hội, gắn liền với việc phát triển công nghiệp và kinh tế thị trường, gắn liền với những thay đổi trong thái độ ứng xử của con người trong quá trình chuyển hoá từ lối sống, nếp sống nông thôn sang lối sống, nếp sống đô thị, do vậy tính chất của lao động và việc làm cũng bị thay đổi 1. Khái niệm về lao động và việc làm 1. Lao động, việc làm Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội.
Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước. Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc doanh. Việc quy định về độ tuổi lao động là khác nhau ở các nước, thậm chí khác nhau ở các giai đoạn của mỗi đất nước. Điều đó tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế.