Chương 1. Cơ sở lý luận về xây dựng chính sách hỗ trợ tài chính cho quá trình đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp sản xuất chè nhỏ và vừa. Thực trạng chính sách hỗ trợ tài chính cho đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp sản xuất chè nhỏ và vừa. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của chính sách hỗ trợ tài chính cho đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp sản xuất chè nhỏ và vừa trong ngành chè Việt Nam.
10 z PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY D NG CHÍNH SÁCH H TR TÀI CHÍNH CHO QUÁ TRÌNH Đ I MỚI C NG NGH TẠI DOANH NGHI P SẢN XUẤT CH NHỎ VÀ V A. Chính sách 1. Khái niệm chính sách Có nhiều cách tiếp cận để xem xét khái niệm chính sách, trong đó đáng chú ý là James E.
Anderson1 đã đƣa ra định nghĩa: “Chính sách là quá trình hành động có mục tiêu, mà một hoặc một số chủ thể theo đuổi để giải quyết những vấn đề mà họ quan tâm”. Từ tiếp cận xã hội học, chúng ta có thể hiểu“ chính sách là tập h p biện pháp do chủ thể quản lý đưa ra, nhằm tạo l i thế cho một (hoặc một số) nhóm xã hội, giảm l i thế của một (hoặc một số) nhóm xã hội khác, để thúc đẩy việc thực hiện một (hoặc một số) mục tiêu xã hội mà chủ thể quyền lực đang hướng tới”. Từ tiếp cận tâm lý học, chúng ta có thể hiểu “chính sách là tập h p biện pháp đối xử ưu đãi đối với một nhóm xã hội, nhằm kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này hướng theo việc thực hiện một (hoặc một số) mục tiêu của chủ thể quyền lực”. Từ tiếp cận thiết chế xã hội thì “ chính sách là một thiết chế xã hội, nó bao gồm những chuẩn mực và những giá trị đư c cấu trúc thành những khuôn mẫu tác phong, đư c xã hội thừa nhận dưới dạng các điều khoản pháp luật, và đóng vai trò những công cụ nhằm thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của xã hội”.
Theo tác giả Vũ Cao Đàm2: “Chính sách là một tập h p biện pháp đư c thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm 1 James E. Anderson: Public Policymaking, Thomson Learning (Dec. 1983) 2 Vũ Cao Đàm: iáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Giáo dục, 2007 11 z này, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lư c phát triển của một hệ thống xã hội.” Khái niệm “Hệ thống xã hội” ở đây đƣợc hiểu theo một ý nghĩa khái quát. Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trƣờng, v.
Nhƣ vậy, nói về một quyết định chính sách, ngƣời quản lý có thể hiểu nhƣ sau: - Chính sách là một tập hợp biện pháp. Đó có thể là một biện pháp kích thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ƣu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội. - Chính sách là một tập hợp biện pháp đƣợc thể chế hoá dƣới dạng các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dƣới luật, nhƣ nghị định, thông tƣ, chỉ thị của chính phủ; hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (doanh nghiệp, trƣờng học, v.v…) - Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và nhóm xã hội. Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó.
Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế, v.v… Mỗi nhóm đƣợc đặc trƣng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu. Đó là cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo động cơ cho đối tƣợng chính sách. - Chính sách phải tác động hƣớng vào động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội. Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó.
Trong luận văn này tác giả sử dụng khái niệm về chính sách của tác giả Vũ Cao Đàm và nhƣ vậy khi nói đến chính sách cần phải chú ý đến các yếu tố dƣới đây: - Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đƣa ra, đƣợc thể chể hoá thành những quy định có giá trị pháp lý, 12 z nhằm thực hiện chiến lƣợc phát triển của hệ thống theo mục đích mà chủ thể quyền lực mong đợi. - Bản chất của chính sách là sự phân biệt đối xử trong xã hội đối với các nhóm xã hội khác nhau. Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ƣu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó là nhóm đóng vai trò tác nhân của mục tiêu phát triển hệ thống. - Các biện pháp ƣu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động của nhóm đƣợc ƣu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lƣợc mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đƣa ra.
- Một chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội, rất có thể, đồng thời khắc phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu thêm những bất bình đẳng vốn có, nhƣng cuối cùng phải nhằm mục đích tối thƣợng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển xã hội. Có một điểm cần lƣu ý là nhóm đƣợc lợi không nhất thiết lúc nào cũng chiếm số đông. Các loại tác động của chính sách Tác động của chính sách là sự hiện thực hóa các mục tiêu của chính sách trong hành vi của con ngƣời và nhóm ngƣời trong xã hội. * Tác động dương tính của chính sách: Tác động dƣơng tính của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả phù hợp với mục tiêu của chính sách.
Tác động dƣơng tính là loại tác động mà cơ quan quyết định chính sách mong muốn đạt tới. Sau khi thực hiện một chính sách, không phải khi nào cũng có tác động dƣơng tính, mà còn có tác động âm tính. Tác động âm tính xuất hiện là một yếu tố khách quan và chính là cơ sở để suy xét ban hành những chính sách tốt hơn cho quá trình phát triển xã hội. * Tác động âm tính của chính sách: Tác động âm tính của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả ngƣợc lại với mục tiêu của chính sách.
13 z * Tác động ngoại biên của chính sách: Tác động ngoại biên của chính sáchlà những tác động dẫn đến những kết quả nằm ngoài dự kiến của cơ quan ban hành và cơ quan thực hiện chính sách.Trong tác động ngoại biên, có thể xuất hiện tác động ngoại biên dƣơng tính và tác động ngoại biên âm tính. - Tác động ngoại biên dƣơng tính, là loại tác động ngoại biên góp phần nâng cao hiệu quả của chính sách. - Tác động ngoại biên âm tính, là loại tác động ngoại biên dẫn tới giảm thiểu hiệu quả của chính sách. Phân loại chính sách 1.1 Phân loại chính sách theo chủ thể ban hành Chủ thể nào cũng cần và có thể dƣa ra những chính sách phục vụ cho mục tiêu tồn tại và phát triển của mình.
Chủ thể ở đây có thể đƣợc hiểu là một nhà nƣớc, một tỉnh/thành phố, một doanh nghiệp, một nhà trƣờng, một tổ chức xã hội, v.2 Phân loại theo mục tiêu tác động của chính sách Dù thuộc chủ thể nào, mỗi chính sách đều nhằm vào một hoặc một số mục tiêu. Chọn mục tiêu nào là tuỳ yêu cầu của mỗi giai đoạn phát triển của hệ thống xã hội. Ví dụ chính sách thu hút nhân tài cho nghiên cứu khoa học, chính sách kiềm chế lạm phát, chính sách bình ổn giá hàng tiêu dùng… 1.3 Phân loại theo tầm hạn của chính sách - Chính sách vĩ mô Đây là chính sách ở tầm hệ thống lớn, chẳng hạn, chính sách của quốc gia. Chính sách vĩ mô có tác dụng tới toàn hệ thống.
Ví dụ chính sách thuế, chính sách an sinh xã hội. Khái niệm “vĩ mô” và “vi mô” mang ý nghĩa hết sức tƣơng đối. Chính sách của quốc gia là vĩ mô còn cấp tỉnh là vi mô khi xem xét ở cấp quốc gia nhƣng chính sách của tỉnh là vĩ mô còn chính sách của xã là vi mô khi xem xét ở cấp tỉnh. - Chính sách vi mô 14 z Đây là chính sách của các đơn vị cơ sở.
Thông thƣờng chính sách vi mô nằm trong khuôn khổ của chính sách vĩ mô nhƣng chính sách vi mô cũng có tính độc lập tƣơng đối với chính sách vĩ mô.4 Phân loại theo thời hạn Có thể phân loại chính sách theo thời hạn hiệu lực của chính sách, trong đó, có chính sách dài hạn, chính sách ngắn hạn, chính sách trung hạn và chính sách nhất thời, rất ngắn hạn để ứng phó với một tình huống đột xuất nào đó. Thật ra, khái niệm dài hạn, trung hạn hoặc ngắn hạn cũng mang ý nghĩa hết sức tƣơng đối, không có một ranh giới quá chặt ch .4 Chính sách tài chính Chính sách tài chính là một chính sách công cụ nhằm phục vụ một mục tiêu phát triển nào đó, chẳng hạn, chính sách phát triển của quốc gia hoặc một ngành cụ thể, một nhóm đối tƣợng cụ thể trong quốc gia. Chính sách tài chính rất đa dạng nhƣ chính sách tín dụng, chính sách đầu tƣ, chính sách thuế, chính sách giá. Trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ tập trung vào ba chính sách là xây dựng các quỹ hỗ trợ, chính sách thuế và chính sách tín dụng.
Có thể nói đây là ba chính sách có ảnh hƣởng rất lớn đến nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, đặc biệt là trong việc đổi mới công nghệ.1 Các Quỹ hỗ trợ Nguồn tài chính huy động từ các Quỹ là một trong những nguồn tài chính quan trọng hỗ trợ cho doanh nghiệp. Có thể nói chính sách xây dựng các Quỹ hỗ trợ là một trong những chính sách tài chính quan trọng quyết định sự phát triển của doanh nghiệp cũng nhƣ thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ của doanh nghiệp.