CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH MARKETING ĐỐI VỚI NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Huy động vốn và marketing nhằm huy động vốn của ngân hàng thương mại 1.Vốn của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm vốn của ngân hàng thương mại Vốn của NHTM đóng vai trò quan trọng không chỉ trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng mà còn trong cả quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Vậy, nguồn vốn của NHTM là gì? Nguồn vốn của NHTM là toàn bộ các nguồn tiền tệ mà ngân hàng tạo lập và huy động được để đầu tư cho vay và đáp ứng các nhu cầu khác trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Phân loại vốn của ngân hàng thương mại Vốn của NHTM được hình thành từ các nguồn: Nguồn vốn chủ sở hữu; Nguồn vốn huy động; Nguồn vốn đi vay; Nguồn vốn khác. Ngoài bộ phận vốn điều lệ khi thành lập và tích lũy được trong quá trình kinh doanh, bộ phận vốn chủ yếu của ngân hàng là một phần thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng mà người chủ sở hữu của chúng gửi vào ngân hàng để thực hiện các mục đích khác nhau. Nguồn vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc quyền sở hữu của NHTM. Vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn (thường chỉ khoảng 5%) nhưng có vai trò cực kỳ quan trọng.
Do tính chất thường xuyên và ổn định nên ngân hàng có thể sử dụng nó vào mục đích khác nhau như trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo tài sản cố định phục vụ cho bản thân ngân hàng, cho vay, đầu tư, góp vốn liên doanh. Mặt khác, vốn chủ sở hữu được coi như là tài sản đảm bảo, gây lòng tin với khách hàng. Nó là căn cứ quyết định quy mô và khối 7 lượng vốn huy động, tính toán các chỉ tiêu đảm bảo an toàn và giới hạn mức cho vay và bảo lãnh của ngân hàng. Vốn sở hữu của NHTM bao gồm: Vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu bổ sung và các quỹ của ngân hàng, trong đó: - Vốn điều lệ: là vốn chủ sở hữu ban đầu khi thành lập ngân hàng.
Đối với mỗi loại hình sở hữu ngân hàng, vốn điều lệ có nguồn gốc khác nhau: vốn điều lệ do ngân sách Nhà nước cấp đối với các NHTM quốc doanh, do các bên đóng góp đối với các NHTM liên doanh, do các cổ đông đóng góp đối với các ngân hàng cổ phần. vốn điều lệ của ngân hàng mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động của NHTM nhưng nó thể hiện năng lực và xu thế phát triển của ngân hàng. - Vốn chủ sở hữu bổ sung là các quỹ ngân hàng hình thành khi ngân hàng đi vào hoạt động, có thể có do Nhà nước cấp, do việc bán thêm cổ phần, nhưng chủ yếu được trích từ lợi nhuận của ngân hàng trong quá trình kinh doanh. Các quỹ này được sử dụng vào những mục đích nhất định.
Các quỹ dự trữ của ngân hàng: đây là các quỹ bắt buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và hoạt động của ngân hàng, các quỹ này được trích lập theo tỷ lệ qui định trên số lợi nhuận ròng của ngân hàng, bao gồm: Quỹ dự trữ, Quỹ dự phòng tài chính, Quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ, Quỹ khen thưởng phúc lợi, Lợi nhuận để lại để phân bổ cho các quỹ. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng là yếu tố tài chính quan trọng bậc nhất, nó vừa cho thấy qui mô của ngân hàng vừa phản ánh khả năng đảm bảo các khoản nợ của ngân hàng đối với khách hàng. Nguồn vốn huy động: Nguồn vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của một NHTM, thông thường tỷ lệ này là 70%- 80%. Nguồn vốn huy động là nguồn vốn không thuộc sở hữu của ngân hàng, được 8 huy động qua tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân nhưng ngân hàng có quyền sử dụng tạm thời khoản vốn này và cho vay đối với khách hàng để hưởng lãi, đồng thời ngân hàng phải trả lãi cho người gửi tiền, khách hàng mua trái phiếu, kỳ phiếu một khoản tiền bằng lãi suất huy động tính trên số tiền huy động.
Đối với nguồn vốn huy động thì ngân hàng phải có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn các khoản vốn này theo thoả thuận giữa khách hàng và ngân hàng. Nguồn vốn huy động có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng vì đây là nguồn vốn cơ bản để ngân hàng dùng cho vay, qua đó thu lợi nhuận. Và đây cũng là nguồn vốn có ảnh hưởng rất lớn đến chi phí và khả năng mở rộng kinh doanh của ngân hàng. Nguồn vốn này có xu hướng ngày càng tăng phù hợp với xu hướng tăng trưởng và ổn định của nền kinh tế.
Chính nguồn vốn huy động qui định nét đặc trưng của kinh doanh ngân hàng so với các loại hình kinh doanh khác. Vì vậy nghiệp vụ huy động vốn cũng là nghiệp vụ quan trọng và đặc trưng của NHTM. Hiện nay ngân hàng huy động vốn qua các đối tượng sau: - Huy động từ dân cư Trên cơ sở hoạt động của mình, ngân hàng thương mại tiến hành huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư, thông qua các hình thức tiết kiệm, gửi thanh toán, ủy thác cho ngân hàng đầu tư. Tuy nhiên thì nguồn tiền gửi trong dân cư bao giờ cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể của ngân hàng thương mại.
Nguồn này vừa có tính ổn định cao, thời hạn chủ yếu là trung và dài hạn, các khoản chi phí cho giao dịch đối với nguồn này thường thấp về số tương đối, khách hàng mang tính ổn định cao, ít biến động, rất thuận lợi cho việc hoạch định chính sách hoạt động của ngân hàng nói chung và chính sách marketing đối với nguồn vốn huy động nói riêng. - Huy động từ các doanh nghiệp 9 Các tổ chức kinh tế, xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, thông thường thì các tổ chức này không thường xuyên gửi tiền vào ngân hàng với mục đích tiết kiệm mà chủ yếu là dùng vào việc thanh toán. Trên cơ sở nắm bắt được chu kỳ, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, chu kỳ hoạt động của các tổ chức, mà ngân hàng đề nghị, hoặc khuyến khích doanh nghiệp, các tổ chức gửi tiền tiết kiệm theo một số quy định cụ thể mà hai bên thỏa thuận, cũng như quy định hiện hành của pháp luật. - Huy động từ các tổ chức tín dụng Đối với các ngân hàng thương mại khác, chỉ áp dụng trong trường hợp ngân hàng thương mại tạm thời thiếu hụt tron thanh toán cho khách hàng, hoặc trong trường hợp ngân hàng thiếu hụt dự trữ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước hoặc để đáp ứng những tình huống bất khả kháng.
Tỷ trọng của nguồn này thường thấp, tính ổn định không cao và không thường xuyên. Các ngân hàng thương mại rất hạn chế sử dụng tới nguồn này. Nguồn vốn đi vay: Nguồn vốn đi vay là nguồn vốn được hình thành bởi các mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau hoặc giữa các tổ chức tín dụng với NHTW. Nguồn vốn này bao gồm: Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng khác và nguồn vốn vay của NHTW.
Nguồn vốn này thường chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh cua NHTM, nhưng nó góp phần gia tăng nguồn vốn, mở rộng kinh doanh của ngân hàng, bảo đảm khả năng thanh toán thường xuyên và nâng cao hiệu suất sử dụng vốn. Trong quá trình kinh doanh như bất kỳ một doanh nghiệp nào, NHTM cũng có lúc phát sinh tình trạng tạm thời thừa vốn hoặc tạm thời thiếu vốn. Các NHTM khi phát sinh tình trạng tạm thời thừa vốn, các Chi nhánh thường điều chuyển vốn thừa về ngân hàng cấp trên. Khi điều chuyển vốn về ngân hàng cấp trên các Chi nhánh cũng được hưởng theo lãi suất nội bộ của ngân 10 hàng.
Tương tự khi thiếu vốn thì các Chi nhánh sẽ vay của ngân hàng cấp trên. Việc vay vốn của ngân hàng khác hệ thống hoặc vay trực tiếp của NHTW hầu như chỉ được thực hiện tại hội sở chính của ngân hàng. Vì NHTW là ngân hàng của các ngân hàng, là người cho vay cuối cùng của nền kinh tế nên khi các NHTM có nhu cầu sẽ được NHTW cho vay vốn. Việc cho vay của NHTW đối với NHTM thông qua hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng, chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá trị ngắn hạn khác; cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá trị ngắn hạn khác.
Ngoài ra, NHTW còn thực hiện cho vay bổ sung thanh toán bù trừ giữa các NHTM. Nói chung, khi vay vốn của NHTW hoặc của các tổ chức tín dụng khác các NHTM thường phải chịu chi phí lớn hơn chi phí huy động vốn. Nhưng khoản vốn này lại không thể thiếu trong quá trình hoạt động của các ngân hàng. Khoản vốn vay này chỉ phát sinh khi ngân hàng có nhu cầu lớn trong thanh toán hoặc tín dụng.
Đây là khoản vốn nhằm chống đỡ những khó khăn trong thanh toán hoặc bù đắp những thiếu hụt về vốn một cách tạm thời của NHTM. Nguồn vốn trong thanh toán: Nguồn vốn trong thanh toán được ngân hàng tạo lập khi thực hiện làm trung gian thanh toán giữa các đối tượng trong nền kinh tế, khi vốn tiền tệ nhàn rỗi dưới các hình thức: Như chênh lệch giữa các thời điểm trích tài khoản người trả và thời điểm nhập số tiền đó vào tài khoản người được hưởng, do khách hàng phải lưu ký một lượng tiền nhất định để đảm bảo thanh toán với người được hưởng trong một số hình thức thanh toán: séc bảo chi, thư tín dụng. Nguồn vốn khác: Ngoài các nguồn vốn trên NHTM còn có các nguồn vốn khác như: 11 - Vốn tài trợ, uỷ thác là khoản vốn ngân hàng nhận được từ Chính phủ, các tổ chức chính trị, các ngân hàng lớn. tài trợ cho các dự án phát triển.
Việc giành một khoản vốn này làm đa dạng hoạt động ngân hàng và nâng cao tỷ trọng cho vay trung và dài hạn. Mặt khác ngân hàng cũng nhận được khoản chênh lệch lãi suất ngay cả khi ngân hàng đóng vai trò là người giải ngân. Điều đó đòi hỏi các ngân hàng phải tăng cường mở rộng các mối quan hệ đối nội, đối ngoại, tăng cường uy tín của mình để có thể tiếp nhận được nhiều nguồn vốn này.