Chương 1: Cơ sở lý luận về pháp luật văn thư, lưu trữ Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về văn thư, lưu trữ trong các cơ quan, tổ chức Đảng ở tỉnh Bắc Ninh. Chương 3: Một số giải pháp tăng cường công tác thực hiện pháp luật về văn thư lưu trữ trong cơ quan, tổ chức đảng ở tỉnh Bắc Ninh. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VĂN THƢ, LƢU TRỮ 1.Những vấn đề chung về văn thƣ, lƣu trữ 1.Văn thư và công tác văn thư 1. Khái niệm văn thư Văn thư vốn là từ gốc Hán, dùng để chỉ tên gọi chung của các loại văn bản, bao gồm cả văn bản do cá nhân, gia đình, dòng họ lập ra (đơn từ, nhật ký, di chúc, gia phả…) và văn bản do cơ quan nhà nước ban hành (chiếu, chỉ, sắc, lệnh) để phục vụ cho quản lý, điều hành công việc chung.
Thuật ngữ này được dùng phổ biến dưới các triều đại phong kiến Trung hoa và du nhập vào nước ta ở thời Trung cổ. Đặc biệt, dưới triều Nguyễn được sử dụng phổ biến trong cơ quan nhà nước. Sau khi lên ngôi (1802), Vua Gia Long thiết lập Thị thư viện, Thị hàn viện, Nội hàn viện để giúp các việc về công văn giấy tờ và quản lí ấn tín. Năm 1820, Vua Minh Mệnh gộp ba cơ quan này và đổi thành Văn thư phòng.
Năm Minh Mệnh thứ 10 (1829), Văn thư phòng được đổi thành Nội các. Năm 1933, Bảo Đại đổi Nội các thành Ngự tiền văn phòng. Trong thời gian 143 năm tồn tại của vương triều Nguyễn, dù cơ quan này đã nhiều lần thay đổi tên gọi nhưng vẫn luôn giữ vai trò giúp việc trực tiếp cho nhà vua, chuyên trách công tác văn thư và lưu trữ các văn bản quản lí nhà nước. Suy cho cùng khái niệm văn thư không còn xa lạ trong cơ quan, tổ chức bới tất cả các cơ quan đều sử dụng văn bản, giấy tờ làm phương tiện giao tiếp chính thức với nhau.
Làm công việc như soạn thảo văn bản, quản lý văn bản tức là làm công tác văn thư.Khái niệm về công tác văn thư Ngay từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước ta đã có những quy định cụ thể về công tác này. Lần đầu tiên, công tác văn thư được đề cập một cách có hệ thống trong Nghị định 527-TTg ngày 02/11/1957 ban 9 hành Bản điều lệ quy định chế độ chung về công văn, giấy tờ ở cơ quan. Tiếp đó, Điều lệ về công tác văn công văn giấy tờ và công tác lưu trữ, ban hành kèm theo Nghị định 142/CP năm 1963 của Chính phủ được ban hành. Sau hơn 40 năm áp dụng và qua nhiều biến động lịch sử ngày 08/4/2004, Chính phủ ban hành Nghị định 110/2004/NĐ-CP thay thế cho Nghị định 141/CP và Nghị định 09 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 110.
Theo Điều 2, Nghị định 110/2004/NĐ-CP quy định về công tác văn thư bao gồm: “Các công việc về soạn thảo, ban hành văn bản; quản lý văn bản và tài liệu khác hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức; quản lý và sử dụng con dấu trong công tác văn thư” 1. Nội dung của công tác văn thư Nội dung của công tác văn thư gồm có 4 nội dung, được quy định tại Nghị định số 110/2004/ NĐ - CP bao gồm: soạn thảo văn bản; quản lý văn bản đến và đi; quản lý con dấu; lập hồ sơ và quản lý hồ sơ. Nội dung thứ 1 : Soạn thảo văn bản + Xác định mục đích, giới hạn của văn bản, + Xác định đối tượng giải quyết và thực hiện văn bản; + Chọn thể loại văn bản; + Thu thập và xử lý thông tin có liên quan; + Xây dựng đề cương văn bản và viết bản thảo; - Duyệt bản thảo, chỉnh sửa bản thảo; - Đánh máy, nhân bản văn bản; - Kiểm tra văn bản trước khi ký ban hành; - Ký văn bản. - Ban hành văn bản.
Nội dung thứ hai: Quản lý văn bản đến và văn bản đi - Tiếp nhận, đăng ký văn bản đến; 10 - Trình, chuyển giao văn bản đến; - Giải quyết và theo dõi, đôn đốc việc giải quyết văn bản đến. Quản lý văn bản đi - Kiểm tra thể thức, thể loại, thẩm quyền ban hành văn bản và kỹ thuật trình bày; ghi số, ký hiệu và ngày, tháng, năm của văn bản; - Đóng dấu cơ quan; dấu chỉ mức độ khẩn, mật (nếu có); - Đăng ký văn bản đi; - Làm thủ tục phát hành và theo dõi việc phát hành văn bản đi; - Lưu văn bản đi. Nội dung thứ ba : Lập hồ sơ hiện hành - Xác định trách nhiệm của lãnh đạo, cán bộ, công chức trong các cơ quan, tổ chức đảng, tổ chức chính trị-xã hội đối với việc lập hồ sơ hiện hành. - Nội dung việc lập hồ sơ hiện hành gồm: + Mở hồ sơ; + Thu thập, cập nhật văn bản, tài liệu hình thành trong quá trình theo dõi, giải quyết công việc vào hồ sơ; + Phân định đơn vị bảo quản; + Sắp xếp văn bản, tài liệu trong đơn vị bảo quản; + Biên mục hồ sơ.
Nội dung thứ 4 : Giao nộp hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ hiện hành - Xác định trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân trong các cơ quan, tổ chức đảng, tổ chức chính trị-xã hội trong việc giao nộp hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ hiện hành; - Xác định thời hạn giao nộp hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ hiện hành của cơ quan, tổ chức; - Thực hiện giao nộp hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ hiện hành của cơ quan, tổ chức. Lưu trữ và công tác lưu trữ 1. Khái niệm về lưu trữ và công tác lưu trữ Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về công tác lưu trữ, theo các tác giả trong cuốn Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ năm 1990, quan niệm về công tác lưu trữ như sau: “Công tác lưu trữ là một ngành hoạt động của nhà nước (xã hội) bao gồm tất cả những vấn đề lý luận, pháp chế và thực tiễn có liên quan đến việc bảo quản và tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ ” [8, tr. 15] Theo Giáo trình Lưu trữ của trường Cao đẳng Nội vụ: “Công tác lưu trữ là một lĩnh vực hoạt động quản lý nhà nước bao gồm tất cả những vấn đề lý luận, thực tiễn và pháp chế liên quan tới việc tổ chức khoa học tài liệu, bảo quản và tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu cá nhân” [71, tr.
Theo Điều1, Thông tư số 04/2013/TT-BNV ban hành ngày 16 tháng 4 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định như sau: “Công tác lưu trữ bao gồm các công việc về thu thập, chỉnh lý, xác định giá trị và sử dụng tài liệu lưu trữ hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức”. Theo Từ điển thuật ngữ lưu trữ các nước xã hội chủ nghĩa. 1982, trang 19, thuật ngữ thứ 19, tiếng Nga – Công tác lưu trữ: “Ngành hoạt động của xã hội (nhà nước), bao gồm các mặt chính trị, khoa học, pháp luật và thực tiễn của việc bảo quản và tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ”. Tổng kết sự phân tích các định nghĩa nêu trên, xét theo xu hướng hội nhập quốc tế cũng như theo tinh thần đổi mới được đề ra trong Luật Lưu trữ của nước ta, có thể đưa ra định nghĩa chung về khái niệm Công tác lưu trữ ở Việt Nam như sau: Công tác lưu trữ là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – 12 nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và các cá nhân trong quản lý và tiến hành (thực hiện) các công việc liên quan đến thu thập, xác định giá trị, tổ chức khoa học, thống kê, bảo quản, sử dụng tài liệu của Phông lưu trữ Quốc gia Việt Nam và các tài liệu lưu trữ khác.
Các định nghĩa này có thể được phát biểu ở dạng rút gọn như sau: Công tác lưu trữ là hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và các cá nhân trong tổ chức bảo quản, thu thập, thống kê và sử dụng tài liệu lưu trữ. Trong phạm vi luận văn này, tác giả sử dụng định nghĩa về công tác lưu trữ tại Điều 1 của Thông tư 04/2013/ TT – BNV để làm cơ sở nghiên cứu. Nội dung công tác lưu trữ - Tổ chức bộ máy và nhân sự làm công tác lưu trữ: Tổ chức bộ máy: Công tác lưu trữ là một mặt hoạt động cơ bản, là nhiệm vụ quan trọng của tất cả các cơ quan, tổ chức. Vì vậy để thực hiện tốt công tác lưu trữ , trong mỗi cơ quan, tổ chức cần có bộ phận chuyên trách làm công tác lưu trữ.
- Ban hành những văn bản quy phạm pháp luật và những văn bản hướng dẫn về công tác lưu trữ: Công tác lưu trữ là một lĩnh vực hoạt động quản lý nhà nước. Để thực hiện tốt công tác lưu trữ cần có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định những vấn đề về quản lý công tác lưu trữ trong phạm vi quốc gia. Hệ thống những văn bản quy phạm pháp luật của nghành góp phần tạo một hành lang pháp lý cho việc triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng và chính sách của nhà nước về việc quản lý và phát triển ngành lưu trữ đồng thời hệ thống văn bản đó cũng góp phần thực hiện thống nhất về nghiệp vụ lưu trữ. - Thực hiện nghiệp vụ lưu trữ: 13 Một trong những nội dung quan trọng của công tác lưu trữ là việc thực hiện các nghiệp vụ lưu trữ như: Thu thập, bổ sung tài liệu; Phân loại tài liệu; Xác định giá trị tài liệu; Thống kê và kiểm tra trong lưu trữ ; Xây dựng công cụ tra cứu khoa học tài liệu; Chỉnh lý tài liệu; Tổ chức bảo quản tài liệu; Tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu; Ứng dụng công nghệ thông tin trong lưu trữ.
- Kiểm tra, đánh giá về công tác lưu trữ: Kiểm tra, đánh giá là khâu then chốt giúp cơ quan, tổ chức nắm được tình hình thực hiện quy định của nhà nước về một ngành, một lĩnh vực nhất định. Kiểm tra, đánh giá là bước cuối cùng của một quy trình công việc được xem xét trong một thời gian hoàn thành nhất định.