mở đầu của giai đoạn đổi mới, mở cửa, nhận thức của Việt Nam về vai trò, vị trí, tác dụng của FDI đối với nền kinh tế quốc dân đã trở nên rõ ràng, thực tế và cụ thể. Luật đầu tƣ nƣớc ngoài 1987 đã khẳng định: Nhà nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoan ngênh và khuyến khích các tổ chức cá nhân nƣớc ngoài đầu tƣ vốn và kỹ thuật vào Việt Nam trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam, tuân thủ pháp luật Việt Nam, bình đẳng và các bên cùng có lợi. Đại hội Đảng toàn quốc lần VII (tháng 6/1991) là bƣớc bổ sung, phát triển đƣờng lối đổi mới, mở cửa của Đại hội VI. Đại hội Đảng VII chủ trƣơng mở rộng quan hệ đối ngoại với các nƣớc trên thế giới và trong khu vực trên nguyên tắc giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phƣơng hoá, đa dạng hoá quan hệ với nƣớc ngoài, kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh, xây dựng nền kinh tế mở, hƣớng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nƣớc sản xuất có hiệu quả.
Về vai trò, vị trí của FDI, Đại hội Đảng VII đã khẳng định: Kinh tế hợp tác kinh doanh với nƣớc ngoài không chỉ là phƣơng thức chính để thu hút vốn đầu tƣ bên ngoài mà còn là con đƣờng thích hợp để tiếp nhận công nghệ, kỹ năng, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, mở lối đi vào thị trƣờng khu vực và thị trƣờng thế giới, thúc đẩy xuất khẩu, tăng năng lực cạnh tranh, điều chỉnh và chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với biến đổi của tình hình quốc tế, khai thác có hiệu quả những lợi thế so sánh trong từng thời kỳ phát triển. Với phƣơng thức thu hút đầu tƣ tích cực (LUAN.ninh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.ninh 17 cải thiện hơn nữa môi trƣờng đầu tƣ, đổi mới và quản lý hoạt động hợp tác, liên doanh với nƣớc ngoài có nhiều hình thức thích hợp để tận dụng mọi nguồn vốn đầu tƣ, chú trọng phát triển các mối quan hệ hợp tác với các công ty đa quốc gia có tầm cỡ thế giới để tranh thủ chuyển giao công nghệ hiện đại, kỹ năng quản lý, điều hành tiên tiến, mở lối thâm nhập vào thị trƣờng khu vực và quốc tế. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (6/1996), Đảng ta tiếp tục khẳng định: Chủ trƣơng xây dựng một nền kinh tế mở, đa phƣơng hoá và đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại, hƣớng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu những mặt hàng trong nƣớc sản xuất có hiệu quả, tranh thủ vốn, công nghệ và thị trƣờng quốc tế để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Phát triển rộng rãi các hình thức kinh tế tƣ bản Nhà nƣớc, áp dụng nhiều phƣơng thức hợp tác, liên doanh giữa Nhà nƣớc với các nhà tƣ bản trong nƣớc và các công ty tƣ bản nƣớc ngoài.
Cải thiện môi trƣờng đầu tƣ và nâng cao năng lực quản lý để thu hút có hiệu quả vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. Với những đặc điểm mới, Việt Nam đã chứng minh cho thế giới thấy tính nhất quán trong việc thu hút FDI và những cố gắng của mình trong việc cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trƣờng đầu tƣ và ban hành các văn bản pháp luật có nội dung phù hợp với thông lệ quốc tế. Để khắc phục ảnh hƣởng khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định 10/1998/NĐ-CP về một số biện pháp khuyến khích và đảm bảo hoạt động đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Việt Nam. Nghị định này đã quy định chi tiết những lĩnh vực khuyến khích đầu tƣ, địa bàn khuyến khích đầu tƣ theo hƣớng khuyến khích xuất khẩu, áp dụng công nghệ cao, sử dụng nhiều lao động, đầu tƣ vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
Nghị định 10 đã quan tâm việc cải cách thủ tục hành chính đối với các dự án FDI nhƣ việc quy định về đăng ký cấp giấy phép đầu tƣ, bỏ các loại giấy phép “con”, quyền tự quyết định của chủ đầu tƣ. Đặc biệt nguyên tắc hồi tố và không hồi tố đã đƣợc quy định theo hƣớng có lợi cho doanh nghiệp.ninh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.ninh 18 Để tiếp tục cải tiến các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp FDI, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành chỉ thị số 11/ 1998/CT - TTg, khẳng định vai trò quan trọng của FDI và tính cấp bách trong việc thu hút nguồn vốn này đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, đồng thời thể hiện rõ quyết tâm của Chính phủ Việt Nam trong việc cải thiện môi trƣờng đầu tƣ bằng việc tiếp tục cải cách thủ tục hành chính theo hƣớng đơn giản hoá, minh bạch hoá. Ngày 26/3/1999, Thủ tƣớng chính phủ ban hành Quyết định số 53/1999/QĐ - TTG về một số biện pháp khuyến khích đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. Có thể nói rằng trong một khoảng thời gian ngắn, bằng việc ban hành Nghị định 10, chỉ thị 11 và Quyết định 53, Việt Nam đã bày tỏ sự quyết tâm của mình trong việc kiên trì đƣờng lối cải cách, mở cửa, cải thiện môi trƣờng đầu tƣ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các chủ đầu tƣ, tiến dần đến một chính sách chung đối với đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.
Để tiếp tục đẩy mạnh thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đáp ứng nhu cầu mới, ngày 09/6/2000, Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua “ Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam”. Điểm nổi bật của Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài năm 2000 là doanh nghiệp FDI đƣợc phép chuyển đổi hình thức đầu tƣ, chia tách, sáp nhập, hợp nhất, vấn đề hồi tố và không hồi tố, vấn đề cân đối ngoại tệ, vấn đề chuyển lỗ sang năm sau (quy định cho mọi hình thức FDI thay vì chỉ quy định cho liên doanh nhƣ Luật 1996), giảm mức thuế chuyển lợi nhuận ra nƣớc ngoài, vấn đề đăng ký cấp giấy phép đầu tƣ lần đầu tiên đƣợc quy định trong Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài năm 2000. Với những kết quả đạt đƣợc sau hơn 10 năm (1987-2000) thu hút FDI, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đã tạo ra 34% giá trị sản xuất toàn ngành sản xuất công nghiệp, khoảng 23% kim nghạch xuất khẩu (chƣa kể dầu khí) và đóng góp trên 12% GDP của cả nƣớc. Khu vực có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đã thu hút trên 35 vạn lao động trực tiếp và hàng chục vạn lao động gián tiếp làm việc trong các ngành xây dựng, thƣơng (LUAN.ninh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.ninh 19 mại, dịch vụ liên quan, góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ công nghệ, trình độ quản lý và mở rộng thị trƣờng.
Tạo điều kiện để kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài phát triển thuận lợi, hƣớng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm. Cải thiện môi trƣờng kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh vốn đầu tƣ nƣớc ngoài… Kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài là một bộ phận của nền kinh tế Việt Nam, đƣợc khuyến khích và phát triển. Nhƣ vậy, tại Đại hội IX, kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đã đƣợc khẳng định là một bộ phận của nền kinh tế Việt Nam, đƣợc khuyến khích phát triển và để sử dụng một cách hiệu quả thành phần kinh tế này, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh tới việc thu hút nguồn vốn FDI theo hƣớng khuyến khích các dự án có công nghệ hiện đại, sản xuất hàng xuất khẩu, thay thế hàng nhập khẩu, đồng thời giải quyết việc làm cho ngƣời lao động. Để thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng IX, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 09/2001/NQ - CP về tăng cƣờng thu hút và nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài thời kỳ 2001 - 2005 và Chỉ thị 19/2001/CT - TTg của Thủ tƣớng Chính phủ về việc tổ chức thực hiện Nghị quyết 09/2001/NQ - CP với định hƣớng: - Khuyến khích mạnh mẽ việc thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp chế biến, công nghiệp phục vụ phát triển nông thôn và kinh tế nông thôn, các dự án ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí, điện tử, vật liệu mới, viễn thông, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế -xã hội, các ngành mà Việt Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh gắn với công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Tiếp tục thu hút FDI vào các địa bàn có nhiều lợi thế để phát huy vai trò của các vùng động lực, tạo điều kiện liên kết phát triển các vùng khác trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh. Khuyến khích và tạo điều kiện tối đa cho các nhà đầu tƣ đầu tƣ vào các vùng kinh tế có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Tập trung thu hút vào các khu công nghiệp đã hình thành theo quy hoạch đƣợc phê duyệt.ninh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.ninh 20 Tháng 03/2003 Chính phủ đã ban hành Nghị định 27/2003/NĐ - CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 24/2000/NĐ - CP quy định chi tiết việc thi hành Luật ĐTNN tại Việt Nam; vào tháng 04/2003 ban hành Nghị định 38/2003/NĐ - CP về việc chuyển đổi một số doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài sang công ty cổ phần. Bằng các văn bản này một lần nữa Việt Nam lại chứng tỏ quyết tâm của mình trong công cuộc cải cách, đổi mới, mở cửa, chủ động tham gia tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng nhƣ những nỗ lực trong việc cải thiện môi trƣờng đầu tƣ.
Một lần nữa Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Luật Đầu tƣ số 59/2005/QH11 ngày 29 tháng 11năm 2005 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2006. Hai nội dung quan trọng của luật đầu tƣ trƣớc đây là đảm bảo đầu tƣ và hỗ trợ, ƣu đãi đầu tƣ lần này đƣợc hoàn chỉnh cho phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Hầu hết các điều kiện để hƣởng ƣu đãi vẫn giữ nguyên nhƣ trƣớc đây nhƣng bổ sung khu kinh tế vào danh mục các địa bàn đƣợc ƣu đãi đầu tƣ.