CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1.1 Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Mặc dù lịch sử về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI-Foreign Direct Investment) đã bắt đầu hình thành từ cuối thế kỷ XIX và phát triển mạnh từ sau Chiến tranh thế giới thứ II, nhưng cho đến nay vẫn tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về FDI. Theo điều tra về chuẩn mực đầu tư trực tiếp nước ngoài của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) năm 2000 1, các nước khác nhau đưa ra tiêu chuẩn để một doanh nghiệp rất khác nhau. Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development – OECD) và IMF 2 đã đưa ra khuyến nghị rằng, một doanh nghiệp chỉ được coi là một công ty đầu tư trực tiếp nước ngoài khi chủ đầu tư nước ngoài sở hữu hoặc có quyền biểu quyết ít nhất 10% số vốn hoặc quyền biểu quyết ở các doanh nghiệp đó. Theo tổ chức thương mại thế giới (WTO): Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty”. Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) thì “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một tác vụ đầu tư bao hàm một quan hệ dài hạn, phản ánh một lợi ích lâu bền của một thực thể cư ngụ tại một nước gốc (nhà đầu tư trực tiếp) đối với một thực thể cư ngụ tại một nước khác (doanh nghiệp tiếp nhận đầu tư)”.
Khái niệm này đã nêu được mục đích của FDI là nhằm thu về những lợi ích lâu dài cho nhà đầu tư, đồng thời chỉ ra dòng vốn do các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào nước tiếp nhận đầu tư. Theo Ngân hàng Pháp, hoạt động đầu tư bao gồm: (a) Thiết lập được một pháp nhân hoặc 1 International monetary fund. URL: http://www.org/external/research/index.aspx 2 IMF/OECD (1999). Report on the Survey of Implementation of Methodological Standards for Direct Investment.
5 Luan van một chi nhánh ở nước ngoài; (b) nắm giữ được một tỷ lệ có ý nghĩa về vốn cho phép nhà đầu tư nước ngoài có quyền kiểm soát việc quản lý doanh nghiệp tại nước tiếp nhận đầu tư; (c) các khoản cho vay hoặc ứng trước ngắn hạn của chủ đầu tư cho công ty tiếp nhận đầu tư một khi đã thiết lập giữa hai bên mối quan hệ công ty mẹ và chi nhánh. Khái niệm này đã nêu được về mặt quản lý, nhà đầu tư có quyền kiểm soát doanh nghiệp tiếp nhận đầu tư cũng như chỉ ra một số hình thức FDI. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD): FDI phản ánh những lợi ích khách quan lâu dài mà một thực thể kinh tế tại một nước (nhà đầu tư) đạt được thông qua một cơ sở kinh tế tại một nền kinh tế khác với nền kinh tế thuộc đất nước của nhà đầu tư (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp). Lợi ích lâu dài bao gồm sự tồn tại các mối quan hệ giữa nhà đầu tư và doanh nghiệp đầu tư, trong đó nhà đầu tư giành được ảnh hưởng quan trọng và có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp.
Đầu tư trực tiếp bao hàm sự giao dịch ngay từ đầu và tất cả những giao dịch vốn tiếp sau giữa hai thực thể được liên kết một cách chặt chẽ”. Khái niệm này đã nêu khá đầy đủ về xuất xứ của nguồn vốn đầu tư, động cơ chủ yếu của FDI là phần vốn sử dụng ở nước ngoài gắn liền với việc kiểm soát hoặc ảnh hưởng nhất định tới hoạt động sử dụng vốn của doanh nghiệp tiếp nhận đầu tư. Theo Tổ chức thương mại và Phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAB): Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một khoản đầu tư liên quan đến mối quan hệ dài hạn, phản ánh mối quan tâm và kiểm soát lâu dài bởi công dân của môt quốc gia (nhà đầu tư hoặc công ty mẹ) đối với doanh nghiệp trong một quốc gia khác (doanh nghiệp FDI, chi nhánh công ty ở nước ngoài). FDI hàm ý rằng, chủ đầu có ảnh hưởng đáng kể đến việc quản lý doanh nghiệp ở quốc gia nhận đầu tư, những khoản được coi là đầu tư bao gồm cả các giao dịch ban đầu và tất cả các giao dịch tiếp theo (trong quá trình hoạt động) giữa chủ đầu tư (công ty mẹ) và công ty hoặc chi nhánh của họ ở nước ngoài.
FDI có thể được thực hiện bởi cá nhân hoặc tổ chức kinh doanh3. Ở Việt Nam, Luật đầu tư nước ngoài ban hành năm 1987 đã đưa ra khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc các tổ chức và cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào 3 Báo cáo đầu tư thế giới, 2004, tr. 6 Luan van được chính phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hay xí nghiệp 100% vốn nước ngoài”. Luật đầu tư năm 2005 không có định nghĩa cụ thể về đầu tư trực tiếp nước ngoai, nhưng theo điểm 2 và điểm 12 Điều 3 định nghĩa: (1) Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư; (2) đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư.
Khái niệm của UNCTAB có sự khác biệt so với khái niệm của Việt Nam đưa ra, trong khi, hiện nay, khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài của UNCTAB được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới. Tuy nhiên, tựu trung lại, các khái niệm trên đều đưa ra một số điểm chính như: FDI là hình thức đầu tư quốc tế, cho phép các nhà đầu tư tham gia điều hành hoạt động đầu tư ở nước tiếp nhận đầu tư tuỳ theo tỷ lệ vốn góp; quyền sở hữu gắn liền với quyền sử dụng tài sản đầu tư, nhà đầu tư có thể có lợi hơn nếu kinh doanh có hiệu quả và ngược lại phải gánh chịu rủi ro khi kinh doanh thua lỗ. Tóm lại, trên cơ sở phân tích trên, đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể hiểu là một hình thức kinh doanh vốn mà quyền sử dụng gắn liền với quyền sở hữu tài sản đầu tư, nó tạo ra một doanh nghiệp có nguồn vốn tạo lập từ nước ngoài đủ lớn hoạt động theo quy định pháp luật của nước nhận đầu tư, nhằm khai thác các lợi thế, các nguồn lực tại chỗ, đảm bảo lợi ích lâu dài của các nhà đầu tư nước ngoài và nước nhận đầu tư.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong vài thập kỷ gần đây, FDI đã trở thành một trong những nguồn vốn bên ngoài quan trọng nhất đối với nhiều quốc gia, nhất là các nướng ĐPT, nước nghèo trên thế giới. Chính vì lý do đó mà FDI dành được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các Chính phủ trong điều hành kinh tế-xã hội.
FDI có đặc điểm gì, mà lại được quan tâm nghiên cứu, như một cú huých từ bên ngoài cho phát triển kinh tế - xã hội? Theo lập luận của Nguyễn Bạch Nguyệt và Từ Quang Phương (2010) 4, FDI dưới góc độ 4 Nguyễn Bạch Nguyệt và Từ Quang Phương (2010). Giáo trình kinh tế đầu tư, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội. 7 Luan van quản lý của Nhà nước, bản thân các doanh nghiệp FDI và mối quan hệ tương quan giữa chúng có những đặc điểm tổng quát như sau: Thứ nhất, FDI là hoạt động đầu tư trực tiếp do chính các tổ chức kinh tế hay các cá nhân nước ngoài tự mình hoặc cùng với các tổ chức kinh tế của nước sở tại bỏ vốn vào một đối tượng nhất định tại nước sở tại. Đồng thời còn trực tiếp quản lý và điều hành để thu lợi trong kinh doanh, đồng thời họ cũng chịu trách nhiệm về vốn cũng như kết quả kinh doanh của mình tại nước tiếp nhận đầu tư.
Thứ hai, FDI chịu ảnh hưởng lớn từ quy định của Luật đầu tư nước ngoài cũng như điều kiện cụ thể của từng lĩnh vực của nước sở tại. Do đó, khi tham gia FDI thì chủ đầu tư thực hiện đầu tư tại nước tiếp nhận đầu tư nên phải tuân thủ theo các quy định do luật pháp nước sở tại đề ra. Thứ ba, khi tham gia FDI, các nhà đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỉ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định theo quy định của luật pháp của nước sở tại để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư. Nguồn vốn FDI bao gồm: vốn góp để hình thành vốn pháp định, vốn đi vay hoặc vốn bổ sung từ lợi nhuận thu được trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Nhà ĐTNN có thể là chủ sở hữu hoàn toàn hoặc đồng chủ sở hữu vốn với một tỷ lệ nhất định đủ sức khống chế và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động của doanh nghiệp cũng như phân chia lợi nhuận. Đồng thời, tỷ lệ góp vốn đầu tư sẽ quyết định việc phân chia quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ đầu tư theo quy định của luật đầu tư nước ngoài của từng nước. Thứ tư, khi tham gia đầu tư FDI, các nhà đầu tư nước ngoài có quyền ra quyết định đầu tư và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình. Điều này giúp cho hiệu quả dự án đầu tư có tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao.
Trong quá trình hoạt động, nhà đầu tư nước ngoài được quyền tự lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, quy mô đầu tư cũng như công nghệ cho mình. Điều này giúp cho tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có sự ràng buộc về chính trị, không có gánh nặng về nợ nần cho nền kinh tế nước nhận đầu tư. Thứ năm, không chỉ đơn thuần là sự di chuyển nguồn lực vốn, FDI còn bao hàm trong đó quá trình chuyến giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý,… từ nước đi đầu tư sang 8 Luan van nước tiếp nhận đầu tư.