phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được kết cấu 3 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về xúc tiến đầu tư và pháp luật về xúc tiến đầu tư Chƣơng 2: Thực trạng và thực thi pháp luật về xúc tiến đầu tư ở Quảng Ninh Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về xúc tiến đầu tư ở Quảng Ninh 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÚC TIẾN ĐẦU TƢ VÀ PHÁP LUẬT VỀ XÚC TIẾN ĐẦU TƢ 1. Khái niệm về hoạt động xúc tiến đầu tƣ 1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động xúc tiến đầu tư 1. Khái niệm xúc tiến đầu tư Theo Tổ chức SRI International, xúc tiến đầu tư (investment promotion) là “tập hợp những hoạt động nhằm khuyến khích các tập đoàn, đơn vị kinh doanh tư nhân hay doanh nghiệp đầu tư mới hay mở rộng kinh doanh sản xuất tại nước sở tại, qua đó nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là sự gia tăng trong số việc làm, doanh thu, lượng giá trị xuất khẩu hoặc các lợi ích kinh tế có liên quan khác” [25].
Một cách tiếp cận khác của Wells và Wint (2000) thì “xúc tiến đầu tư bao gồm những hoạt động marketing nhất định được thực hiện bởi các Chính phủ, tổ chức nhằm thu hút các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài” [27]. Các hoạt động này bao gồm: Quảng cáo, gửi thư marketing trực tiếp, hội thảo đầu tư, tổ chức các phái đoàn xúc tiến đầu tư, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại, phát hành các ấn phẩm, tài liệu; các nỗ lực marketing trực tiếp; tạo điều kiện cho nhà đầu tư đến thăm, giao lưu, hợp tác với các doanh nghiệp địa phương, giúp đỡ nhà đầu tư nước ngoài được cấp phép kinh doanh, chuẩn bị dự án, hướng dẫn nghiên cứu khả thi và các dịch vụ hỗ trợ nhà đầu tư đi vào hoạt động. Không có một khái niệm nhất quán về xúc tiến đầu tư, nhưng nhìn chung, xúc tiến đầu tư là một công cụ với mục đích thu hút đầu tư. Luận văn bám theo quan điểm của Wells và Wint, xúc tiến đầu tư là một hoạt động kinh tế - xã hội nhằm mục đích nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc thu hút các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp, đơn vị, cá nhân trong và ngoài nước đến đất nước mình, địa phương mình… để đầu tư.
Hay nói cách khác, hoạt động xúc tiến đầu tư thực chất là hoạt động marketing trong thu hút đầu tư mà kết quả của hoạt 8 động này chính là nguồn vốn đầu tư thu hút được. Thực chất của vấn đề là làm thế nào để tạo dựng được thương hiệu của một quốc gia, một địa phương để các nhà đầu tư gắn liền nó với những đặc điểm chất lượng mà họ yêu cầu. Hoạt động xúc tiến đầu tư có vai trò quảng bá hình ảnh của một đất nước, một địa phương về môi trường đầu tư sở tại nhằm thu hút dòng vốn đầu tư vào địa bàn. Dòng vốn đầu tư chính là dòng tiền thông minh của các tập đoàn lớn, các công ty xuyên quốc gia, luôn được thu hút về những nơi có môi trường tốt và có những điều kiện thuận lợi.
Hơn nữa, trong xu thế hội nhập và cạnh tranh khắc nghiệt như hiện nay, thì việc thu hút đầu tư giữa các địa phương khác nhau ngày càng trở nên dữ dội hơn. Như vậy, sự cạnh tranh gay gắt giữa các địa bàn đã làm cho công tác xúc tiến đầu tư trở thành một hoạt động tất yếu và ngày càng được gia tăng không chỉ ở những nước, những địa phương phát triển mà còn ở những nước, những địa phương đang phát triển. Nội dung của hoạt động xúc tiến đầu tư thường bao gồm: Chiến lược xúc tiến đầu tư, cơ quan xúc tiến đầu tư, xây dựng hình ảnh, lựa chọn mục tiêu, dịch vụ hỗ trợ nhà đầu tư, và hỗ trợ xây dựng chính sách cải thiện môi trường đầu tư. Các yếu tố chính tác động đến hoạt động xúc tiến đầu tư gồm có: Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia/địa phương; xu hướng đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước; môi trường đầu tư.
Đặc điểm của hoạt động xúc tiến đầu tư - Về tính chất, xúc tiến đầu tư là một loại hoạt động đầu tư. Đặc điểm này cho phép khẳng định, xúc tiến đầu tư là nhằm mục đích kinh doanh, ưu đãi và khuyến khích đầu tư, thúc đẩy các hoạt động này thực hiện với hiệu quả cao nhất. - Về chủ thể, Chủ thể của hoạt động xúc tiến đầu tư là các cơ quan có thẩm quyền được phép thực hiện các hoạt động xúc tiến đầu tư theo quy định của pháp luật hay nói cách khác là các cơ quan Quản lý Nhà nước về đầu tư, cơ quan/tổ chức có chức năng thực hiện công tác xúc tiến đầu tư như Bộ Kế hoạch 9 và Đầu tư, Sở Kế hoạch và đầu tư, Ban quản lý các KCN/KKT,KCNC, Ban Xúc tiến và hỗ trợ đầu tư, Trung tâm xúc tiến đầu tư…. - Về mục đích, xúc tiến đầu tư nhằm mục đích trực tiếp là nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc thu hút các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp, đơn vị, cá nhân trong và ngoài nước đến đất nước mình, địa phương mình… để đầu tư.
Về mặt lý luận, hoạt động đầu tư và hoạt động thương mại mang bản chất khác nhau (hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích sinh lời và thường do thương nhân thực hiện, có ý nghĩa hỗ trợ cho hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ…), nhưng cách thức để xúc tiến những hoạt động đó thì có nhiều nét tương đồng. Trong mọi trường hợp, các biện pháp thông tin, marketing, triển lãm… nhằm thu hút dòng tiền thông minh tới các dự án đầu tư, mang đến hiệu quả thương mại và đầu tư. - Về cách thức thực hiện, do có đối tượng áp dụng là các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động đầu tư, dù là nhà đầu tư trong nước hay nhà đầu tư nước ngoài thì cũng chỉ có 2 hình thức đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Vai trò và các hình thức xúc tiến đầu tư 1.
Vai trò của xúc tiến đầu tư Vai trò của hoạt động xúc tiến đầu tư được thể hiện qua các vấn đề sau đây: Thứ nhất, xúc tiến đầu tư có thể tác động lớn đến mức độ thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và đầu tư trong nước của một địa phương. Cụ thể là gia tăng 10% trong ngân sách xúc tiến đầu tư sẽ làm tăng 2.5% lượng vốn FDI; và với mỗi 1$ chi phí cho các hoạt động xúc tiến đầu tư ban đầu sẽ thu về được một giá trị ròng tương ứng gấp gần 4 lần. Xúc tiến đầu tư có vai trò đặc biệt quan trọng nhất là khi chủ đầu tư còn đang trong giai đoạn tìm hiểu, thăm dò, lựa chọn địa điểm đầu tư. Hoạt động xúc tiến đầu tư mang đến cho chủ đầu tư những thông tin liên quan đến ý định đầu tư của họ, giúp các nhà đầu tư có cái nhìn tổng quát, chính xác và kịp thời về quốc gia, địa phương mà họ định đầu tư để họ có cơ sở cân nhắc và đi đến quyết định cuối cùng.
Như vậy, hoạt động xúc 10 tiến đầu tư có vai trò rút ngắn thời gian trong việc ra quyết định đầu tư của nhà đầu tư. Vốn đầu tư không phải tự nhiên mà đến với quốc gia này, địa phương kia. Để ra được quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư, các nhà đầu tư phải tìm hiểu tỉ mỉ, tính toán kỹ lưỡng và đưa ra các phương án tối ưu nhất. Hiện nay, các quốc gia đang cạnh tranh nhau rất gay gắt trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, do vậy hoạt động xúc tiến đầu tư ngày càng trở nên sôi động và quan trọng hơn bao giờ hết.
Hiệu quả của hoạt động xúc tiến đầu tư được thể hiện ngay ở kết quả thu hút đầu tư. Nếu hoạt động xúc tiến đầu tư đạt hiệu quả cao thì lượng vốn đầu tư thu hút được nhiều và ngược lại. Do vậy, xúc tiến đầu tư góp phần đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Thứ hai, xúc tiến đầu tư với các hoạt động xây dựng hình ảnh đóng vai trò như là chiếc cầu nối giúp giải quyết sự bất cân xứng thông tin, các hoạt động này sẽ giúp các nhà tư vấn/ môi giới hay chính các nhà đầu tư có được những thông tin tổng thể, chính xác về môi trường đầu tư, thông qua đó, lợi thế cạnh tranh của nước sở tại về thu hút đầu tư nước ngoài cũng được tăng cường, nâng cao.
Thứ ba, xúc tiến đầu tư sẽ giúp môi trường đầu tư của địa phương được cải thiện, trở nên thông thoáng, các chi phí thủ tục hành chính được giảm thiểu, chi phí gia nhập thị trường của nhà đầu tư sẽ thấp hơn. Ngoài việc phát triển cơ sở hạ tầng của toàn xã hội, nước chủ nhà cần xây dựng những khu vực đặc biệt cung cấp những dịch vụ đầu tư tốt nhất cùng với những điều kiện ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài. Kết quả cuối cùng của công tác xúc tiến đầu tư là hiệu quả của việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, chúng ta có thể thu hút đầu tư nước ngoài nhiều hay không và với chất lượng ra sao. Công tác xúc tiến đầu tư đã gián tiếp góp phần hình thành các khu chế xuất, khu công nghệ cao.
Xúc tiến đầu tư tạo ra dòng chảy vốn một cách hợp lý, huy động tối đa mọi nguồn lực của đất nước. 11 Thứ tư, xúc tiến đầu tư tạo điều kiện đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Có thể nói cơ sở hạ tầng có vai trò làm nền móng cho các hoạt động đầu tư. Nước chủ nhà cần phải chuẩn bị cơ sở hạ tầng tốt trước khi tiếp nhận đầu tư.
Đó là các công việc như xây dựng đường xá giao thông, bến bãi, nhà ga, hệ thống cung cấp điện nước, thông tin, bưu điện. Chi phí đầu tư cho cơ sở hạ tầng là rất lớn, vì vậy, khi đầu tư ra nước ngoài thì các nhà đầu tư luôn quan tâm đến chất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng – điều kiện quyết định hiệu quả đầu tư của họ. Ở những nước đang phát triển, các nhà đầu tư thường tập trung vào những vùng miền có chất lượng cơ sở hạ tầng tốt, điều này sẽ giúp nhà đầu tư giảm được chi phí.