CHƯƠNG 1 NHŨNG VÁN ĐẺ Cơ BẢN VÈ ĐẦU TƯ VÓN PHÁT TRIỂN KINH TÉ Tư NHÂN 1. TỐNG QUAN VÈ KINH TÉ Tư NHÂN 1. Khái niệm về kinh tế tư nhân Muốn hiểu KTTN, chúng ta sẽ bắt đầu từ phạm trù kinh tế. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhiều cách định nghĩa và lý giải khác nhau về phạm trù “Kinh tế”.
Theo Từ điển tiếng Việt, ngôn ngữ học Việt Nam "Kinh tế là tong hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của con người và xã hội liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người trong một xã hội với một nguồn lực có giới hạn. Kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất, các điều kiện sống cùa con người, các moi quan hệ trong quá trĩnh sản xuất và tái sản xuất xã hội. Nói đến kinh tế suy cho cùng là nói đến vấn đề sở hữu và lợi ích. Khái niệm kinh tế đề cập đến các hoạt động của con người có liên quan đến sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ.
Tuy nhiên định nghĩa về kinh tế đã thay đổi theo lịch sử các hoạt động kinh tế. Theo quan điểm hiện đại, các nhà kinh tế học có định nghĩa đơn giản hơn về kinh tế: Dựa vào nguồn tài nguyên sẵn có và hạn hẹp, con người và xã hội loài người tìm cách trả lời các câu hỏi: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất bao nhiêu và Sản xuất cho ai? Từ các cách tiếp cận trên đây, dưới góc độ sản xuất, theo tác giả: "Kinh tế là cách thức, kỹ thuật của con người nhằm cải biến, chiếm lĩnh của cải tự nhiên đê thoả mãn nhu cầu ngày càng tot hơn" Tư nhân có nghĩa là riêng tư (Tiếng Anh - private). Khu vực kinh tế tư nhân (private economy sector) là kinh tế của sở hữu một cá nhân hay một nhóm cá nhân tự bỏ vốn, quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Như vậy, kinh tế tư nhân hình thành và phát triển trên nền tảng sở hữu tư nhân và lợi ích cá nhân.
Điều 211 Bộ luật dân sự nước ta (2005) cho rằng: Sở hữu tư nhân là sở hữu của các cá nhãn đổi với tài sản họp pháp của mình. Sở hữu tư nhân bao gồm: sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhãn. 13 Thực tế cho thấy: sở hữu cá thể, tiểu chủ và sở hữu tư bản tư nhân là một thể thống nhất không có sự chia cắt, chúng cùng có chung một nội dung sở hữu: đó là sở hữu tư nhân. Như vậy, theo tác giả: Sở hữu tư nhân là hình thức sở hữu của cả nhân những nhà sản xuất kinh doanh trong hoặc ngoài nước về các nguồn lực sản xuất được đầu tư vào các ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế.
Cá nhân tự quyết định, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Những nguồn lực sản xuất này thuộc qưyển sử dụng, định đoạt, hưởng lợi của cá nhãn người sở hữu. Trong thực te ở Việt Nam và một số nước có nền kinh tế chuyển đổi, KTTN là một khái niệm có nhiều điếm chưa thống nhất, tùy theo góc độ nghiên cứu và cách tiếp cận khác nhau. Theo Báo cáo phát triển Việt Nam của Liên hiệp quốc, nền kinh tế được phân chia thành hai khu vực: KTNN và KTTN.
Quan niệm này đã đồng nhất KTTN là kinh tế phi Nhà nước, bao gồm: các doanh nghiệp thuộc hình thức KTTN, Họp tác xã và các Doanh nghiệp trong đó Nhà nước hay các Doanh nghiệp nhà nước sở hữu dưới 50%. Quan điểm này được hiểu là KTTN gồm các DNTN trong nước và các DNCVĐTNN dưới dạng liên doanh hay 100% vốn nước ngoài. Các DNTN trong nước bao hàm cả HTX nông nghiệp và các doanh nghiệp phi nông nghiệp (các trang trại). Quan niệm KTTN theo nghĩa rộng như vậy tạo cơ sở để đánh giá hết tiềm năng của khu vực kinh tế này đối với phát triển kinh tế Việt Nam.
Tuy nhiên, công tác thống kê lại khó tách bạch rõ ràng phần góp vốn của nhà nước trong các CTCP cũng như trong các DNCVĐTNN. Các chuyên gia kinh tế cũng có nhiều ý kiến khác nhau nên các số liệu thống kê về sản lượng, lao động, đóng góp vào ngân sách và các chỉ tiêu khác của KTTN cũng khác nhau, những đinh nghĩa đó là: - KTTN là hình thức kinh tế dựa trên cơ sở toàn bộ hay đại diện bộ phận tự liệu sản xuất thuộc sở hữu tư nhãn và lao động làm thuê; người chủ chiếm đoạt giá trị thặng dư do công nhân sáng tạo ra. Quan niệm này cho rằng KTTN bao gồm các loại hình DNTN trong nước, không bao hàm các cơ sở kinh tế cá thể. Cách hiếu này bộc lộ nhiều hạn chế và không phản ảnh được một cách đầy đủ và toàn diện về KTTN.
14 - KTTN gồm các đơn vị kinh tế mà phần lớn vốn do một hoặc một số tư nhân gộp lại, huy động cổ phần (do một hay một nhóm tư nhãn nắm cổ phiếu khổng chế, chi phổi) thuê lao động sản xuất kinh doanh. Quan niệm này không phân biệt loại hình DNTN với kinh tế cá thể, đồng thời không thể căn cứ vào số lao động làm thuê đê phân biệt có bóc lột hay không bóc lột. - KTTN bao gồm các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh (kể cả kinh te hợp tác và kỉnh tế gia đình. Cách nhìn nhận này dựa trên việc chia nền kinh tế thành 3 khu vực: khu vực kinh tế quốc doanh (khu vực KTNN); khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (khu vực kinh tế ngoài nhà nước) và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Quan điểm này cho rằng khu vực KTTN không bao hàm kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tại Việt Nam, theo các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam nền kinh tế chủ yếu được chia theo các thành phần kinh tế. Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân) hình thành nhiều hình thức sở hữu (sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu hỗn hợp) và nhiều thành phần kinh tế: KTNN, kinh tế tập thể, KTTN, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Thành phần KTTN bao gồm: kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân.
Theo Quyết định số 147/TCTK ngày 27/12/1993 của Tổng cục thống kê Việt Nam phân chia nền kinh tế thành ba khu vực: kinh tế trong nước, kinh tế có vốn nước ngoài và kinh tế đầu tư ra nước ngoài. Khu vực kinh tế trong nước gồm 5 thành phần kinh tế: KTNN, kinh tế tập thể, KTTN, kinh tế cá thể và kinh tế hỗn hợp. Trong khi đó số liệu thống kê và tổng hợp không theo thành phần kinh tế mà theo hình thức tổ chức sản xuất: doanh nghiệp nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cô phần, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân, các cơ sở kinh tế cá thể, tiểu chủ. Kinh tế cá thể, tiểu chủ là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân nhỏ về TLSX và sử dụng lao động chủ yếu là của bản thân và gia đình.
Thu nhập chủ yếu vần dựa vào lao động của bản thân và gia đình. Kinh tế cá thế tiếu chủ tồn tại dưới các hình thức là kinh tế hộ ở nông thôn, thợ thủ công, tiểu thương, hộ kinh doanh thương mại. Loại hình này, không được nghiên cứu trong đề tài vì là một 15 mảng nghiên cứu rất rộng, tác giả không thể bao quát hết và rất khó để đề ra giải pháp cụ thể. Kinh tế tư bản tư nhân là loại hình kinh tế thực chất dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và thuê mướn lao động chủ yếu.
Thành phần kinh tế này có qui mô về vốn, lao động và thu nhập lớn hon kinh tế cá thể, tiểu chủ. Kinh tế tư bản tư nhân được thành lập dưới nhiều hình thức doanh nghiệp khác nhau như: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty họp danh. Các doanh nghiệp này chủ yếu sử dụng lao động làm thuê, có quy mô sản xuất kinh doanh và qui mô về sử dụng lao động lớn hơn hẵn kinh tế tiểu chủ. Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam các loại hình doanh nghiệp này được phân biệt như sau: DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Công ty TNHH là doanh nghiệp trong đó các thành viên góp vốn chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp. CTCP là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia nhỏ thành nhiều phần băng nhau gọi là cô phần, cố đông góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Công ty Hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên hợp danh. Ngoài hai thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn.
Thành viên họp danh là cá nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Với những lý giải trên, tác giả luận án diễn đạt KTTN như sau: “KTTN được hiêu là tât cả các cơ sở sản xuất kinh doanh trong nước dựa trên sở hữu tư nhân về các yếu tổ của quá trình sản xuất và hoạt động theo hành lang Pháp lý của Luật pháp trên nguyền tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh: tự bỏ vốn; tự tô chức sản xuât kinh doanh; tự chủ trong kinh doanh và tự phân phôi kêt quả tài chính (sau khi thực hiện các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước) 16 1.