mở đầu của mọi quá trình sản xuất và tái sản xuất nhằm tạo ra năng lực sản xuất của nền kinh tế. Quá trình đầu tư phải trải qua một thời gian lao động dài mới tạo ra sản phẩm để đưa vào sử dụng, đặc biệt với đầu tư công từ nguồn vốn NSNN thì thời gian hoàn vốn lâu và chủ yếu là đáp ứng mục tiêu xã hội. Một dự án đầu tư là một thực thể độc lập trong môi trường xác định với các giới hạn nhất định về quyền hạn và trách nhiệm. Đồng thời, dự án khi triển khai thực hiện được xác định rõ mục tiêu, nguồn lực, thời gian khởi công, thời gian hoàn thành, cơ cấu, chất lượng và hiệu quả mang lại.
- Vốn đầu tư phát sinh so với dự toán ban đầu là điều tất yếu: Trong quá trình thực hiện dự án đầu tư công từ nguồn vốn NSNN, do thời gian kéo dài nên các yếu tố chính trị, kinh tế - xã hội và tự nhiên can thiệp sẽ ảnh hưởng trực tiếp, thậm chí gây ra những tổn thất mà những nhà đầu tư không lượng định hết khi lập dự án. - Phải có quy hoạch và được phê duyệt bởi các cấp có thẩm quyền: Sản phẩm của đầu tư công từ nguồn vốn NSNN là cơ sở hạ tầng, công trình phúc lợi xã 8 hội, giao thông, bến bãi… có tính cố định gắn liền với đất đai. Vì thế trước khi quyết định đầu tư dự án từ nguồn vốn này phải được quy hoạch cụ thể, khi triển khai thực hiện thường gặp khó khăn trong đền bù giải phóng mặt bằng. - Nguồn vốn đầu tư công từ nguồn vốn NSNN dễ bị thất thoát: Quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn đầu tư công từ nguồn vốn NSNN bị tách rời.
Nguồn vốn này thuộc quyền sở hữu của Nhà nước. Trong khi đó quyền sử dụng lại giao cho một tổ chức bằng việc thành lập các chủ đầu tư, các ban quản lý dự án. Từ đặc điểm này mà nguồn vốn đầu tư công từ nguồn vốn NSNN dễ bị thất thoát nếu chủ đầu tư, ban quản lý dự án không ngừng nâng cao trách nhiệm, trình độ quản lý đáp ứng yêu cầu quản lý và Nhà nước không ngừng công tác thanh tra, kiểm tra và xử phạt. - Đầu tư công thường tạo ra những hàng hóa và dịch vụ công hay còn gọi là hàng hóa công cộng: Hàng hóa công có 2 thuộc tính nổi bật: (1) Không cạnh tranh trong tiêu dùng và (2) không loại trừ trong tiêu dùng.
Vì vậy, hầu như hàng hóa công cộng do Chính phủ cung cấp (đối với những hàng hóa công cộng thuần túy) và ngoài ra còn có thể huy động sự tham gia của khu vực tư để đáp ứng nhu cầu về hàng hóa công của xã hội (đối với những hàng hóa công cộng bán thuần túy). - Đầu tư công từ NSNN là khoản chi tích lũy. - Quy mô và cơ cấu chi đầu tư công từ NSNN không cố định và phụ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ và mức độ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. - Chi đầu tư công phải gắn chặt với chi thường xuyên nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư.
Đặc điểm của vốn đầu tư công Dựa trên khái niệm vốn đầu tư công đã nêu trên và các điều luật liên quan chúng ta có thể nhận thấy 2 đặc điểm nổi bật của loại vốn này. Cụ thể như sau: Theo điều 1, Luật Đầu tư Công, vốn đầu tư công bao gồm: vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư,… 9 Vốn đầu tư công được sử dụng để đầu tư vào các chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Phân loại vốn đầu tư công Có 5 loại vốn đầu tư công đó là: - Vốn ngân sách nhà nước: Đây là nguồn vốn được quyết định và giải ngân vốn đầu tư công đến các bộ ngành, địa phương. Nguồn vốn giải ngân đầu tư công đến từ ngân sách nhà nước, được dùng để xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội.
Đây là nguồn vốn không hoàn lại, không có khả năng thu hồi vốn hay thu hồi vốn chậm. Vốn đầu tư công từ ngân sách nhà nước có vai trò thúc đẩy sự tăng trưởng ổn định cho nền kinh tế nhà nước. - Vốn đầu tư từ các chương trình hỗ trợ: Vốn đầu tư từ các chương trình hỗ trợ là nguồn vốn đầu tư đến từ các chương trình hỗ trợ đầu tư quốc gia được quyết định bởi chính phủ nhà nước. - Vốn tín dụng đầu tư: Vốn tín dụng đầu tư là nguồn vốn của nhà nước, được chính phủ cho vay với mức lãi suất bằng với nguồn vốn tự do hay vốn ODA.
Vốn tín dụng này được sử dụng để đầu tư vào các dự án thuộc các lĩnh vực ưu tiên của nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu nhất định. - Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước: Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước gồm có giải ngân tiền vốn từ ngân sách nhà nước đã cấp cho doanh nghiệp, cùng với các khoản thu có lợi nhuận hoặc vốn vay của doanh nghiệp do Nhà nước bảo lãnh. Quản lý và phân bố sử dụng đúng cách vốn đầu tư cho các doanh nghiệp nhà nước ở các lĩnh vực được dùng để đẩy mạnh sự phát triển của kinh tế đất nước. - Vốn vay trong nước và nước ngoài: Bên cạnh các nguồn vốn đến từ nguồn trong nước như ngân sách nhà nước, tín dụng đầu tư, thì nguồn vốn vay từ cả trong nước và nước ngoài cũng cần thiết để thực hiện những dự án cần thiết.
Đây là nguồn vốn vay trong nước và nước ngoài đối với những dự án đầu tư trong nước. Nguồn vốn trong nước gồm trái phiếu địa phương hoặc trái phiếu chính phủ (phiếu ngoại tệ, phiếu kho bạc, trái phiếu đầu tư, công trái xây dựng…). Vai trò của đầu tư công đối với phát triển kinh tế - xã hội Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên việc đầu tư cho các công trình hạ tầng, cơ quan vật chất - kĩ thuật tối thiểu chung cho xã hội: Đầu tư được coi là động lực chính thức thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bản chất của mối quan hệ này đã được nghiên cứu trong nhiều nghiên cứu mang tính lý thuyết và thực nghiệm. Nhiều nghiên cứu ở nước ngoài phân biệt giữa đầu tư tư nhân và đầu tư công, theo đó, đầu tư công thường được cho là đầu tư cho kết cấu hạ tầng.
Việc phân biệt như vậy rất có ý nghĩa vì đầu tư cho kết cấu hạ tầng có những điểm khác biệt với nguồn vốn được sử dụng trong các doanh nghiệp. Kết cấu hạ tầng là vốn tồn tại bên ngoài doanh nghiệp và hỗ trợ hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp cũng như các hoạt động của các cá nhân. Do vậy, nhiều doanh nghiệp và cá nhân trong một khu vực có hưởng lợi từ kết cấu hạ tầng đó mà không phải bỏ thêm chi phí hoặc với chi phí thấp hơn nếu kết cấu hạ tầng đó phải được cung cấp cho người sử dụng thêm đó, nên kết cấu hạ tầng có thể coi như cung cấp những lợi ích ngoại lai cho những người sử dụng. Ở nhiều quốc gia, một số hoạt động sản xuất là do các doanh nghiệp Nhà nước thực hiện.
Tại các nước phát triển, đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước lại có xu hướng bị giới hạn trong một số ngành và tỷ trọng các hoạt động do các doanh nghiệp Nhà nước thực hiện đã giảm đi đáng kể trong ba thập kỷ qua. Tuy nhiên, ở các nước xã hội chủ nghĩa, doanh nghiệp Nhà nước lại đóng vai trò quan trọng mặc dù tại một số nước, tỷ trọng sản lượng của các doanh nghiệp Nhà nước đang giảm đi. Theo đó, tầm quan trọng của doanh nghiệp Nhà nước tại các nước xã hội chủ nghĩa được phản ánh trong các định nghĩa về các chỉ tiêu, do đó, đầu tư vào doanh nghiệp Nhà nước thường được tính vào đầu tư công. Góp phần làm giảm khoảng cách giàu nghèo, giảm bất bình đẳng, bất công trong xã hội bằng các chương trình, dự án kinh tế hỗ trợ các vùng khó khăn, vùng sâu vùng xa, các dân tộc thiểu số, nâng cao và ổn định đời sống người dân.
Tác động của đầu tư công đối với giảm nghèo được thể hiện rõ nét nhất trong khu vực nông nghiệp, nông thôn. Ở Việt Nam, phần lớn hộ nghèo sống trong khu vực nông 11 thôn với công việc chính là sản xuất nông nghiệp. Đầu tư công trực tiếp làm tăng thu nhập cho người nông dân thông qua tăng năng suất sản xuất nông nghiệp. Và khi năng suất lao động tăng đồng nghĩa với việc người lao động trong khu vực nông nghiệp sẽ có mức lương cao hơn, góp phần giảm nghèo.
Đầu tư công cho xóa đói giảm nghèo trong thời gian qua đã góp phần quan trọng trong việc tăng thu nhập, nâng cao mức sống, chất lượng sống của người nghèo thông qua việc tăng cường khả năng tiếp cận và được hưởng dịch vụ phúc lợi xã hội (giáo dục, y tế, văn hóa…); cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội ở địa bàn nghèo, khó khăn; nâng cao ý thức, trách nhiệm cộng đồng đối với người nghèo và thay đổi nhận thức của người nghèo, giúp họ thích nghi được với kinh tế thị trường. Tỷ lệ người nghèo giảm ở bất cứ chỉ tiêu nào, được Liên hợp quốc đánh giá cao trong việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và là một trong bốn nước có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất thế giới. Những vấn đề cơ bản về quản lý vốn đầu tư công 1.Khái niệm quản lý vốn đầu tư công - Quản lý: Có nhiều khái niệm về quản lý, trong đó các tác giả đều thống nhất về cốt lõi của khái niệm quản lý, đó là trả lời câu hỏi; Ai quản lý? (Chủ thể quản lý); Quản lý ai? Quản lý cái gì? (Khách thể quản lý); Quản lý như thế nào? (Phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì? (Công cụ quản lý); quản lý để làm gì? (Mục tiêu quản lý).