Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển kinh tế - xã hội - Chương 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006-2012. - Chương 3: Một số giải pháp đây mạnh thu hút vốn đâu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Quảng Ninh Nguyễn Mạnh Hà 4 Lớp 12A.QTKD-HL Luan van thac si Truong Dai hoc Bach khoa Ha Noi CHUONG 1 CO SO LY LUAN VA KINH NGHIEM THUC TIEN VE THU HUT VON DAU TU TRUC TIEP NUOC NGOAI 1. TÔNG QUAN ĐÉ VÓN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI: 1. Khái niệm và đặc điểm cúa vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.
Khái niệm vé von đầu tư trực tiếp nước ngoài - Theo Tổ chức Thương mại thế giới - WTO (Wơrld Trade Organization): Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó (Manaœ that Asset). Mức độ quản lý là thứ để phân biệt FDI với các hình thức đầu tư gián tiếp vào cổ phiếu, chứng khoán và các công cụ tài chính khác. Trong phân lớn các trường hợp, cả nhà đầu tư và các tài sản mà họ quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường được gọi là công ty mẹ và các tài sản là các công ty con hay chỉ nhánh công ty [di 9|, [18].
Định nghĩa của WTO nhẫn mạnh tầm quan trọng của quyển quản lý tải sản. Quyên quản lý tải sản hiểu rộng hơn chính là quyền kiểm soát doanh nghiệp. Quyền này được xác lập dựa trên các thành phân chính sau: + Vốn chủ sở hữu là giá trị phần vốn góp của công ty mẹ trong công ty con ở nước ngoài. Loại vốn này phải chiếm ít nhất 10% cỗ phiếu thường hoặc quyên biểu quyết trở lên.
Loại vốn này xuất hiện trong các hình thức đầu tư FDI bao gồm mua lại và sát nhập hay thành lập mới công ty. + Lợi nhuận tái đầu tư là phần lợi nhuận của các công ty mẹ thu được nhưng dé lai để tái đầu tư vào các công†ty cơn. + Cac nguén vốn khác: Bao gồm các loại quỹ tín dụng ngắn hạn hay dài hạn ø1ữa công ty mẹ và công ty con. - Theo Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005 đã “có các khái niệm về “ đầu tư”, Nguyễn Mạnh Hà 5 Lớp 12A.QTKD-HL Luan van thac si Truong Dai hoc Bach khoa Ha Noi “đầu tư trực tiếp”,35 66 “đầu tư nước ngoài” nhưng không có khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài”.
Tuy nhiên có thể “gộp” các khái niệm trên lại và có thể hiểu FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng các loại tài sản hữu hình hay vô hình để tiến hành hoạt động đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Theo quy định của Việt Nam, vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài được nhìn nhận ở một góc độ mới, tiệm cận dần với đầu tư trực tiếp trong nước. Luật Đầu tư năm 2005 góp phan tạo nên môi trường pháp lý bình dang cho hoạt động đâu tu, không phân biệt thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài hiểu theo quy định của Luật Đầu tư như sau: “Dau tw trực tiếp nước ngoài là việc nhà dau tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiên hoặc bất kỳ tài sản nào để tiễn hành hoạt động dau tư theo quy định của Luật Đầu tư tại Việt Nam”.
Như vậy, có thể hiểu khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: Đẩu trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn quốc tế dưới hình thức vốn sản xuất thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nưóc khác để đầu tư, đồng thời trực tiếp tham gia quản lý, điều hành, tô chức sản xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý. nhằm mục đích thu lợi nhuận. Với cách hiểu khái niệm FDI như trên ta có thể thấy các hoạt động FDI có những đặc điểm sau: + Thứ nhất, về vốn góp: Các chủ đầu tư góp một lượng vốn tối thiểu tuỳ theo quy định của mỗi nước nhận đầu tư dé họ có quyền trực tiếp tham gia điều phối, quản lý quá trình sản xuất kinh doanh. Ở Việt Nam, Luật Đầu tư cũng đã đưa ra điều kiện “phần vốn góp của bên nước ngoài hoặc các bên nước ngoài vào vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh không bị hạn chế về mức cao nhất theo sự thoả thuận của các bên, nhưng không dưới 30% vốn pháp định, trừ những trường hợp do Chính phủ quy định”.
+ Thứ hai, về quyền điều hành, quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào mức vốn góp. Nêu nhà đâu tư nước ngoài đầu tư 100% vôn thì Nguyễn Mạnh Hà 6 Lớp 12A.QTKD-HL Luan van thac si Truong Dai hoc Bach khoa Ha Noi quyền điều hành hoàn toàn thuộc về nha đầu tư nước ngoài, có thể trực tiếp hoặc thuê người quản lý. + Thứ ba, về phần chia lợi nhuận: dựa trên kết quả sản xuất kinh doanh, lãi lỗ, phân chia theo tý lệ vốn góp trong vốn pháp định sau khi đã trừ các khoản đóng góp với nước chủ nhà và các khoản nợ khác. Có thể nói, hoạt động FDI là một tất yếu khách quan đối với cả phía nhà đầu tư cũng như đối với phía tiếp nhận đầu tư.
Các nhà đầu tư, mà chủ yếu là các công ty đa quốc gia thuộc các nước phát triển hoặc các nền kinh tế mới nỗi, do yêu cầu mở rộng kinh doanh và nâng cao khả năng cạnh tranh, do sự chỉ phối của quy luật lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận giảm dần, nhăm tận dụng các lợi thế vốn có của mình, đang phải vươn tầm hoạt động ra khắp thế giới. Họ trở thành nguồn cung cấp vốn chính cho nền kinh tế thế giới. Về phía các nước đang phát triển, do thu nhập thấp nên khả năng tiêu dùng cũng như tích luỹ còn ở mức thấp. Phần lớn thu nhập được dùng để đảm bảo tiêu dùng ở mức tối thiểu cần thiết, do đó phần dành cho tiết kiệm rất nhỏ.
Nói cách khác, tỷ lệ tiết kiệm trên GDP khá thấp, trong khi đó lại cần một khoảng đầu tư tương đối lớn để phát triển kinh tế. Mặt khác, ở các nước này do công nghiệp chưa phát triển nên hàng xuất khẩu chủ yếu là nguyên liệu sơ chế hoặc những mặt hàng có giá trị gia tăng thấp. Trong khi hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị có giá trị gia tăng cao. Vì thế, cán cân thương mại có tình trạng nhập siêu lớn, gây thiếu hụt ngoại tệ tram trọng.
Vì vậy, việc du nhập tư bản từ nước ngoài là một tất yếu khách quan. Về nguyên tắc, tổ chức, cá nhân nhà ĐTNN được đối xử bình đăng như các nhà đầu tư trong nước về quyên lựa chọn các hình thức doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp để đầu tư kinh doanh ở Việt Nam. Các doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp 2005 dù là doanh nghiệp hoàn toàn do các nhà đầu tư trong nước bỏ vốn đâu tư hay là doanh nghiệp có vốn ĐTNN thì đều phải tuân thủ các quy định của Luật Doanh nghiệp về cách thức tô chức, quản lý, các quy định về quyền và nghĩa vụ, tô chức lại và chấm đứt hoạt động. Tuy nhiên, vấn đề đầu tư trực tiêp nước ngoài tại Việt Nam vân còn có điêm khác biệt so với đầu tư Nguyễn Mạnh Hà 7 Lớp 12A.QTKD-HL Luan van thac si Truong Dai hoc Bach khoa Ha Noi trực tiếp trong nước.
Từ những khái niệm nêu trên, có thê đi đến kết luận: FDI là quá trình di chuyển vốn quốc tế dài hạn, nhà đâu tư nước ngoài tiễn hành đầu tư một tỷ lệ vốn nhất định bằng tiên hoặc các tài sản khác và trực tiếp tham gia quản lý sản xuất kinh doanh có liên quan tới vốn mà họ đấu tư, nhằm thu được những lợi ích láu đài. Đặc điểm chính của đầu tư trực tiếp nước ngoài - Đặc điểm chính của FDI là tìm kiếm lợi nhuận: FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận: theo cách phân loại ĐTNN của UNCTAD và IME, FDI là đầu tư tư nhân. Do chủ thể là tư nhân nên FDI có mục đích ưu tiên hàng đầu là lợi nhuận. Các nước nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triển cần lưu ý điều này khi tiến hành thu hút FDI, phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hut FDI hop ly để hướng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của nước mình, tránh tình trang FDI chi phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư.
- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tuỳ theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư. Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng được phân chia dựa vào tỷ lệ này. Luật các nước thường quy định không giống nhau về vẫn đẻ này. Luật Mỹ quy định tỷ lệ này là 10%, Pháp và Anhlà 20%, Luật pháp Việt Nam không quy định tý lệ này.
- Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức. - Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Nhà đầu tư nước ngoài được quyền tự lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, thị trường đầu tư, quy mô đầu tư cũng như công nghệ cho mình, do đó sẽ tự đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ. Vì thế, hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, Nguyễn Mạnh Hà 8 Lớp 12A.QTKD-HL Luan van thac si Truong Dai hoc Bach khoa Ha Noi không để lại gánh nặng no nan cho nên kinh tế nước nhận đầu tư.