LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Từ đầu thế kỷ 20, Việt Nam nói chung và các địa phương nói riêng đã có những tiến triển mạnh mẽ trong hội nhập kinh tế quốc tế. Đây cũng là thời kỳ mà các hoạt động hội nhập nền kinh tế thế giới diễn ra sâu rộng với nhiều nội dung và hình thức khác nhau nhưng chủ yếu nhất vẫn là xuất nhập khẩu và đầu tư nước ngoài. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã và đang mang lại lợi ích lớn cho tất cả các nước, các địa phương, là nguồn vốn bổ sung quan trọng vào phát triển kinh tế cũng như sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Với những tác động của nó, FDI đã góp phần đáng kể vào việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm, chuyển giao công nghệ và khai thác một cách hiệu quả hơn nguồn tài nguyên của các địa phương. Trên thực tế, không phải bất kỳ một địa phương nào cũng có khả năng thu hút tốt nguồn vốn FDI. Lượng vốn vào một địa phương phụ thuộc rât lớn vào môi trường đầu tư, kinh nghiệm thu hút đầu tư của địa phương đó. Các địa phương dẫn đầu trong thu hút FDI tại Việt Nam là Bình Dương, Hồ Chí Minh, Hà Nội, Vũng Tàu,… Đây là những địa phương có cơ sở hạ tầng tốt, chính sách đầu tư thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi và đảm bảo được lợi ích tốt nhất cho nhà đầu tư nước ngoài.
Và FDI cũng đã góp phần rất lớn để đưa các địa phương này trở thành địa phương có nền công nghiệp hàng đầu trong cả nước. 2 Thanh Hóa là tỉnh có nhiều tiềm năng (về tài nguyên thiên nhiên, về nguồn nhân lực, về cơ chế chính sách…) để phát triển kinh tế. Mặc dù là một tỉnh nông nghiệp, nhưng công nghiệp của Thanh Hóa luôn khẳng định được vị trí, vai trò của nó trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Để thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, phấn đấu đến năm 2020, Thanh Hóa cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp như trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội mà tỉnh đã đề ra thì vốn đề thực hiện đầu tư, sản xuất có ý nghĩa vô cùng to lớn.
Trong khi nguồn vốn tự của tỉnh Thanh Hóa nói riêng, của Việt Nam nói chung còn hạn chế thì việc tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành tất yếu và là một nguồn vốn quan trọng Trong những năm qua, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Thanh Hóa còn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có của tỉnh. Xuất phát từ thực tiễn những vấn đề trên, đề tài “Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển ngành công nghiệp của tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020” đã được tác giả lựa chọn làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế như hiện nay, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những nội dung được nhiều tác giả có những công trình nghiên cứu với nhiều mức độ và phạm vi khác nhau. Các Luận án tiến sĩ kinh tế có liên quan đến đề tài nghiên cứu như: “Một số giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp của các nước trong nhóm G7 vào Việt Nam” của Trần Anh Phương (2004); “Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN và khu chế xuất tại vùng kinh tế trọng điểm phía 3 nam: Thực trạng và Giải pháp” của tác giả Đỗ Văn Hảo (2006);“Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển công nghiệp phụ trợ của các ngành công nghiệp Việt Nam” của tác giả Vũ Quốc Bảo (2007); “Thu hút FDI nhằm phát triển lĩnh vực dịch vụ trong điều kiện Việt Nam là thành viên của WTO” của tác giả Vũ Thị Vân Anh (2008); “Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN tỉnh Hưng Yên: Thực trạng và giải pháp” của tác giả Đào Trường Giang (2008); “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với việc chuyển dịch cơ cấu của tỉnh Thái Nguyên” của Nguyễn Tiến Long (2011); “Môi trường đầu tư với hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Ái Liên (2011); “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với việc chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu ở vùng Đồng Bằng Bắc Bộ” của tác giả Bùi Thúy Vân (2011);… Ngoài ra, hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển ngành công nghiệp còn được đề cập trong các bài báo trên các Tạp chí, các Website của Chính phủ cũng như các địa phương.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu, các bài báo đề cập đến việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu ở mức độ nhà nước hoặc là ở các địa phương khác nhau. Trong sự hiểu biết của tác giả thì chưa thấy có công trình nghiên cứu nào đề cập cũng như đưa ra các giải pháp để tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển ngành công nghiệp của tỉnh Thanh Hóa. Mục tiêu nghiên cứu của luận án Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp của tỉnh Thanh Hóa; những thành tựu đạt được và những hạn chế cần khắc phục cũng như những nguyên nhân Luận văn hệ 4 thống một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển một số ngành công nghiệp tại tỉnh Thanh Hóa đến 2020. Để đạt được các mục tiêu trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ cụ thể như sau: - Hệ thống hóa những lý luận về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển ngành công nghiệp của địa phương; - Phân tích, đánh giá hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Thanh Hóa cho đến hết tháng 3 năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Trên cơ sở các nội dung đã phân tích ở trên, luận văn đề xuất một số kiến nghị với chính phủ và các giải pháp mang tính khả thi để tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển ngành công nghiệp của tỉnh Thanh Hóa đến 2020. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là lý luận và thực tiễn quá trình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào địa phương, Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp tỉnh Thanh Hóa của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa đến tháng 10/2012, đưa ra phương hướng, giải pháp đến 2020. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính như: chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, 5 đồng thời kết hợp với các phương pháp mô tả, phân tích tổng hợp, phương pháp phân tích thống kê… trong đó: Với phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tác giả nghiên cứu môt cách toàn diện hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Thanh Hóa từ khi mới bắt đầu cho đến 31/3/2012. Các hoạt động này được nghiên cứu trong mối quan hệ tương tác giữa không gian và thời gian.
Với phương pháp mô tả, phân tích tổng hợp luận văn đã mô tả các hoạt động của UBND tỉnh Thanh Hóa nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp, đưa ra những đánh giá khái quát trên cơ sở những phân tích cụ thể. Với phương pháp phân tích thống kê, luân văn dựa trên cơ sở những số liệu thống kê có được để phân tích hoạt động thu hút đầu tư vào Thanh Hóa từ các đối tác cũng như các thị trường khác nhay nhằm phát triển ngành công nghiệp của tỉnh. Bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng, biểu, danh mục chữ viết tắt, luận văn được chia thành 03 chương chính. Những cơ sở để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển công nghiệp của địa phương Chương 2.
Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển ngành công nghiệp của tỉnh Thanh Hóa Chương 3. Giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển ngành công nghiệp của tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020 6 CHƯƠNG 1 NHỮNG CƠ SỞ ĐỂ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA ĐỊA PHƯƠNG 1. Tầm quan trọng của thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển công nghiệp của tỉnh Việt Nam là nước đang phát triển, cơ cấu kinh tế chưa đạt đến trình độ hiện đại cao. Trước năm 1986, hầu hết các tỉnh đều là thuần nông, thậm chí còn là tỉnh nông nghiệp lạc hậu.
Nhưng kể từ 1986, khi Việt Nam đã chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh phát triển nông nghiệp thì ngành công nghiệp và dịch vụ cũng bắt đầu được chú trọng. Tuy đã từng bước được cải thiện nhưng sự phát triển cũng như vai trò của ngành dịch vụ vẫn còn rất hạn chế. Công nghiệp nổi lên như một tất yếu khách quan và giữ vai trò chủ đạo trong việc phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, nâng cao mức sống dân cư. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Để đạt được mục tiêu này thì các tỉnh cũng phải trở thành tỉnh công nghiệp. Trong mọi giai đoạn, nhất là khi nền kinh tế đang lâm vào tình trạng suy thoái thì nguồn vốn cho đầu tư phát triển nói chung và cho ngành công nghiệp nói riêng là hết sức cần thiết. Để giải quyết vấn đề nan giải trên, nguồn vốn FDI trở thành “động lực” thúc đầy nền kinh tế. 7 Tại các địa phương, nguồn vốn cho phát triển kinh tế lại càng gặp nhiều hạn chế.
Một thực tế đặt ra là trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, trong khi các doanh nghiệp trong nước gặp rất nhiều khó khăn vì nợ khó trả và phải tiến hành tái cấu trúc; doanh nghiệp tư nhân gặp khó khăn vì vốn ít mà lãi ngân hàng lại cao thì khu vực FDI vẫn tiếp tục phát triển vững mạnh.