Mở đầu Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý thuế đối với doanh nghiệp Phần 3: Phương pháp nghiên cứu Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5: Kết luận và kiến nghị 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 2.
Một số khái niệm 2. Khái niệm về quản lý Theo quan điểm của Stephen “Quản lý” là quá trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hành động của những người trong một tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức để đạt được mục tiêu của tổ chức (Stephen et al. Quan điểm của Taylor cho rằng “Quản lý” là hình thành công việc của mình thông qua người khác và biết được chính xác họ đã hoàn thành công việc của mình theo cách tốt nhất và rẻ nhất (Taylor, 2002). Đầu thế kỷ 20 nhà quản lý Mary Parker Follett định nghĩa quản lý là "nghệ thuật khiến công việc được làm bởi người khác".
Trên thực tế tồn tại nhiều cách tiếp cận khái niệm “quản lý”. Thông thường, quản lý đồng nhất với các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển, động viên, kiểm tra, điều chỉnh… theo lý thuyết hệ thống: “quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống” (Phạm Quang Lê, 2007). Theo Phạm Quang Lê (2007), quản lý là một khái niệm rất rộng bao gồm nhiều dạng. Chúng ta có thể gộp thành 3 dạng chính: - Quản lý các quá trình của thế giới vô sinh (nhà xưởng, ruộng đất, tài nguyên, hầm mỏ, thiết bị máy móc, nguyên vật liệu, sản phẩm.
- Quản lý các quá trình diễn ra trong cơ thể sống (cây trồng, vật nuôi). - Quản lý các quá trình diễn ra trong xã hội loài người (quản lý xã hội: đảng, nhà nước, đoàn thể quần chúng, kinh tế, các tổ chức.) Quản lý, theo nghĩa chung nhất, là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Quản lý là một hoạt động có tính chất phố biến, mọi nơi, mọi lúc, trong mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và liên quan đến mọi người. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Sơ đồ về quy trình quản lý Nguồn: Phạm Quang Lê (2007) Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người. Quản lý là hoạt động do một hay nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm đat được một mục tiêu nào đó một cách có hiệu quả. Như vậy, quản lý là sự áp dụng kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm để điều khiển nguồn lực thực hiện các tiến trình để giải quyết các vấn đề. Khái niệm về thuế Sự xuất hiện Nhà nước đòi hỏi cơ sở vật chất để đảm bảo điều kiện cho Nhà nước tồn tại và thực hiện chức năng của mình.
Vì vậy, Nhà nước dùng quyền lực chính trị để ban hành những quy định pháp luật cần thiết làm công cụ phân phối lại một phần của cải của xã hội và hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước. Sự xuất hiện sản phẩm thặng dư trong xã hội là cơ sở tạo khả năng và nguồn thu của Nhà nước. Từ đó, các sắc thuế được hình thành và trở thành một trong những nguồn thu chủ yếu của Nhà nước (Phan Thị Cúc và cs. Thuế là số tiền thu của các công dân, hoạt động và đồ vật (như giao dịch, tài sản) nhằm huy động tài chính cho chính quyền, nhằm tái phân phối thu nhập, hay nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội.
Đóng thuế vừa là quyền lợi được thực thi trách nhiệm công dân đóng góp cho sự phát triển phồn vinh của đất nước, vừa là nghĩa vụ phải thực hiện của mỗi công dân (Phan Thị Cúc và cs. Để đảm bảo nguồn lực tài chính nhằm duy trì bộ máy quản lý, thực hiện chi tiêu, đầu tư công Nhà nước có thể huy động qua các công cụ như: vay của dân, vay của nước ngoài, phát hành tiền, xuất khẩu tài nguyên. nhưng công cụ được Nhà nước chú trọng hơn cả là việc ban hành chính sách thuế đảm bảo nguồn thu ổn định, bền vững. Sự ra đời của của bộ máy quản lý thuế, cũng như chính sách thuế gắn liền với sự ra đời của Nhà nước.
Nhà nước với quyền lực của 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mình tổ chức bộ máy quản lý thuế và ban hành các luật thuế để bắt buộc người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước.Vậy, thuế được hiểu là: khoản thu theo luật định mang tính bắt buộc mà người nộp thuế phát sinh nghĩa vụ thuế phải thực hiện nhằm đảm bảo nguồn lực tài chính trong việc quản lý nhà nước và đầu tư công (Vũ Văn Cương, 2012). Khái niệm về doanh nghiệp và doanh nghiệp ngoài quốc doanh Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh (Quốc hội, 2014). Theo Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc Hội thì khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là toàn bộ các đơn vị sản xuất kinh doanh của tư nhân đứng ra thành lập, đầu tư kinh doanh và tổ chức quản lý. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm: - Doanh nghiệp tư nhân - Các công ty: + Công ty cổ phần; + Công ty TNHH: Công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH có hai thành viên trở lên; + Công ty hợp danh; Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là bộ phận quan trọng trong nền kinh tế, là khu vực phát triển năng động nhất, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế.
Khái niệm về quản lý thuế đối với doanh nghiệp Quản lý nhà nước đối với nền kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra, trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế. Trong khi đó quản lý tài chính công là quá trình Nhà nước hoạch định, xây dựng chính sách, chế độ; sử dụng hệ thống các công cụ và phương pháp thích hợp tác động đến các hoạt động của tài chính công, làm cho chúng vận động phù hợp với yêu cầu khách quan của nền kinh tế - xã hội, nhằm thực hiện tốt nhất các chức năng do Nhà nước đảm nhận. Quản lý thuế rõ ràng là một nội dung của quản lý nhà nước về kinh tế (Vũ Văn Hóa và cs. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý thuế là những biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có chức năng thu ngân sách nhà nước thực hiện, đó là những hoạt động thường xuyên của cơ quan thu hướng về phía đối tượng nộp nhằm đảm bảo thu thuế đầy đủ, kịp thời và đúng luật định (Vũ Văn Hóa và cs.
Quản lý thuế là thuật ngữ dùng để chỉ tổng thể các khâu lập pháp, hành pháp và tư pháp về thuế. Khi xem xét lĩnh vực thuế dưới góc độ quản lý nhà nước là xem xét ở tầm vĩ mô. Quản lý nhà nước về thuế là quản lý nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Chủ thể quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế là các cơ quan nhà nước có chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp về thuế.
Đối tượng của quản lý nhà nước về thuế là "các quá trình xã hội, hành vi của cá nhân và tổ chức xã hội" trong lĩnh vực thuế. Tuy nhiên, luận văn này chỉ xét đến lĩnh vực quản lý thuế (Nguyễn Thị Bất và Vũ Duy Hào, 2002). Quản lý thuế là hoạt động của Nhà nước mà cơ quan thuế là đại diện để nhằm huy động tiền thuế vào ngân sách nhà nước theo những quy định của pháp luật về thuế. Quản lý thuế là hoạt động quản lý gắn liền với cơ quan thuế - một tổ chức nhà nước có tư cách pháp nhân công quyền.
Do đó, quản lý thuế là một hình thức quản lý công. Quản lý thuế chỉ gồm khâu hành pháp và tư pháp về thuế (Nguyễn Thị Bất và Vũ Duy Hào, 2002). Quản lý thuế gồm những hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước, thuộc lĩnh vực hành pháp và tư pháp về thuế của cơ quan thuế các cấp, với các chức năng nhiệm vụ quyền hạn do luật định, nhằm thực hiện chính sách thuế đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua. Nói cách khác, quản lý thuế là khâu tổ chức thực hiện chính sách thuế của cơ quan thuế các cấp, là việc định ra một hệ thống các tổ chức, phân công trách nhiệm cho các tổ chức này, xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận một cách hữu hiệu trong việc thực thi các chính sách thuế nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra, trong điều kiện môi trường quản lý luôn biến động (Nguyễn Thị Bất và Vũ Duy Hào, 2002).
Như vậy, quản lý thuế đối với doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng có những đặc điểm cơ bản sau: Quản lý thuế mang tính quyền lực nhà nước và được bảo đảm bằng pháp luật, Nhà nước dùng quyền lực để bảo đảm nguồn thu thuế cho NSNN. Quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh là quá trình đảm bảo thực thi các chính sách thuế, do vậy đây là quá trình thực hiện quyền hành pháp và tư pháp về thuế. Quản lý thuế bao gồm 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những hoạt động trong bộ máy nhà nước, thuộc lĩnh vực hành pháp và tư pháp về thuế của các cơ quan thuế các cấp, với các chức năng và quyền hạn do luật định, nhằm đảm bảo thực hiện chính sách thuế đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua. Quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh gắn liền với cơ quan thuế một tổ chức nhà nước có tư cách pháp nhân công quyền.
Chủ thể quản lý thuế trực tiếp là các cơ quan quản lý thuế các cấp được Nhà nước giao trách nhiệm và quyền hạn trực tiếp thu thuế. Đối tượng quản lý là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có nghĩa vụ phải nộp thuế vào NSNN theo quy định của luật thuế.