Chương 1. Một số vấn đề cơ bản lý luận và thực tiễn về quản lý thu chi ngân sách nhà nước cấp huyện. Thực trạng quản lý thu chi ngân sách nhà nước huyện Hoằng Hoá tỉnh Thanh Hóa Chương 3. Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý thu chi ngân sách nhà nước huyện Hoằng Hoá tỉnh Thanh Hóa 6 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CẤP HUYỆN 1.
Một số vấn đề chung về NSNN cấp huyện và thu chi NSNN cấp huyện 1.1 Hệ thống ngân sách Nhà nước Hệ thống NSNN được hi u là tổng th các cấp ngân sách có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu, chi của mỗi cấp ngân sách. Hệ thống NSNN tổ chức trên cơ sở hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước phân cấp quản lý kinh tế xã hội và trình độ phát tri n trong từng thời kỳ, ở nước ta hệ thống NSNN bao gồm NSTW và NSĐP. Trong đó NSTW được hi u là các khoản thu, NSNN phân cấp cho cấp trung ương được hưởng và các khoản chi NSNN thuộc nhiệm vụ chi của cấp trung ương. NSĐP được hi u là các khoản thu NSNN phân cấp cho địa phương thụ hưởng, thu bổ sung từ NSTWcho NSĐP, và các khoản chi NSNN thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương.
Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là NS tỉnh); Ngân sách huyện, quận, thị xã (gọi chung là NS huyện); ngân sách xã, phường, thị xã (gọi chung là NS xã). Tại điều 6 luật NSNN năm 2015 tiếp tục khẳng định: Ngân sách Nhà nước bao gồm NSTW và NSĐP; ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương [1]. Cơ cấu tổ chức của hệ thống NSNN ta được mô tả theo sơ đồ sau: 7 Ngân sách nhà Ngân sách nước Trung ương Ngân sách Cấp tỉnh Ngân sách Địa phương Ngân sách Cấp huyện Ngân sách Cấp xã Sơ đồ 1.1: Hệ thống Ngân sách Nhà nƣớc ở Việt Nam (Nguồn:[11]) Phân cấp quản lý NSNN là việc xác định phạm vi, trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền các cấp, các đơn vị dự toán trong việc quản lý NSNN phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội. Phân cấp quản lý NSNN nhằm đảm bảo việc xác định một cách rõ ràng thẩm quyền và trách nhiệm, quyền chủ động, linh hoạt đồng thời tạo điều kiện tăng cường ki m tra, thanh tra công tác quản lý NSNN, điều chỉnh mối quan hệ giữa chính quyền Nhà nước TW và các cấp chính quyền Nhà nước địa phương trong việc xử lý các vấn đề hoạt động đối với hệ thống các cấp ngân sách góp phần làm minh bạch nền tài chính nước nhà.
Trên cơ sở quán triệt những nguyên tắc trên, phân cấp quản lý NSNN giữa chính quyền TW và chính quyền ĐP th hiện ở 3 nội dung sau đây: Một là: Phân định thẩm quyền ban hành chính sách, chế độ, định mức tiêu chuẩn chi tiêu ngân sách. 8 Hai là: Phân định về nguồn thu và nhiệm vụ chi của các cấp ngân sách trên cơ sở đó đ xác định rõ mỗi cấp ngân sách được những nguồn thu nào và nhiệm vụ chi của mỗi cấp ngân sách. Ba là: Phân định quyền hạn, trách nhiệm của chính quyền các cấp đối với việc quyết định dự toán; phân bổ dự toán NS; phê chuẩn quyết toán NS; điều chỉnh dự toán NS. Phân cấp quản lý NSNN về cơ bản phải tuân thủ các nguyên tắc chung sau đây: - Phù hợp với phân cấp quản lý KTXH của Nhà nước và năng lực quản lý điều hành của cấp chính quyền.
- Đảm bảo vai trò chủ đạo của NSTW và vị trí độc lập của NSĐP trong hệ thống NSNN thống nhất. - Đảm bảo công bằng, công khai, minh bạch trong phân cấp quản lý NSNN Trên tinh thần của các nguyên tắc chung đó tại điều 39 luật Ngân sách nhà nước (2015) xác định nguyên tắc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách cấp địa phương là: Hội đồng nhân dân cấp Tỉnh quyết định phân cấp cụ th nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp ở địa phương theo nguyên tắc sau [1]: + Ngân sách huyện được phân chia nguồn thu từ các khoản: Thu từ chuy n quyền sử dụng đất, thu từ bán đất, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế môn bài thu từ hộ kinh doanh, thu thuế lệ phí trước bạ nhà, đất,… + Căn cứ các nguồn thu theo tỷ lệ % đối với các khoản thu phân chia thì Hội đồng nhân dân cấp Tỉnh quyết định tỷ lệ % đối với khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách ở địa phương. Theo quy định tại khoản 1, Điều 4, Luật ngân sách nhà nước (2015): Ngân sách nhà nước gồm NSTW và NSĐP. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân [1].
9 Ngân sách nhà nước là một tổng th thống nhất bao gồm nhiều cấp ngân sách cấu thành (theo quy định của Luật ngân sách nhà nước hiện hành ở Việt Nam có 4 cấp ngân sách tương đương với 4 cấp chính quyền Nhà nước) gồm: ngân sách Trung ương, ngân sách tỉnh, thành phố, ngân sách quận, huyện, ngân sách xã, phường. Ngân sách nhà nước cấp huyện là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của Chính quyền nhằm phục vụ cho việc sử dụng công cụ quản lý quan trọng của chính quyền trong việc ổn định an ninh, trật tự xã hội và phát tri n kinh tế xã hội trên địa bàn huyện. Tuy nhiên, khi xem xét khái niệm về ngân sách huyện không được tách khỏi khái niệm về ngân sách nhà nước nói chung, nhưng cũng không được coi khái niệm chung về ngân sách nhà nước là khái niệm của ngân sách huyện. Ngân sách huyện là toàn bộ các khoản thu, chi được quy định đưa vào dự toán trong năm do Hội đồng Nhân dân huyện quyết định và giao cho Ủy ban nhân dân huyện tổ chức thực hiện, chấp hành, nhằm bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền.
Theo quy định tại khoản 1, Điều 4, Luật ngân sách nhà nước (2015): Ngân sách nhà nước gồm NSTW và NSĐP. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân [1]. Ngân sách nhà nước là một tổng th thống nhất bao gồm nhiều cấp ngân sách cấu thành (theo quy định của Luật ngân sách nhà nước hiện hành ở Việt Nam có 4 cấp ngân sách tương đương với 4 cấp chính quyền Nhà nước) gồm: ngân sách Trung ương, ngân sách tỉnh, thành phố, ngân sách quận, huyện, ngân sách xã, phường. Ngân sách nhà nước cấp huyện là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của Chính quyền nhằm phục vụ cho việc sử dụng công cụ quản lý quan trọng của chính quyền 10 trong việc ổn định an ninh, trật tự xã hội và phát tri n kinh tế xã hội trên địa bàn huyện.
Tuy nhiên, khi xem xét khái niệm về ngân sách huyện không được tách khỏi khái niệm về ngân sách nhà nước nói chung, nhưng cũng không được coi khái niệm chung về ngân sách nhà nước là khái niệm của ngân sách huyện. Ngân sách huyện là toàn bộ các khoản thu, chi được quy định đưa vào dự toán trong năm do Hội đồng Nhân dân huyện quyết định và giao cho Ủy ban nhân dân huyện tổ chức thực hiện, chấp hành, nhằm bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền. Đặc điểm ngân sách nhà nước cấp huyện Trong công cuộc đổi mới công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, hệ thống ngân sách huyện ngày càng được hoàn thiện hơn. Là một cấp ngân sách trong hệ thống ngân sách Nhà nước nên ngân sách huyện cũng mang đầy đủ các đặc đi m chung của ngân sách các cấp chính quyền địa phương đó là: - Được phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi theo qui định của pháp luật - Được quản lý điều hành theo dự toán và theo chế độ, tiêu chuẩn định mức do cơ quan có thẩm quyền quy định.
Bên cạnh những đặc đi m chung, ngân sách huyện c n có đặc đi m riêng: - Ngân sách huyện là một loại quỹ tiền tệ của cơ quan chính quyền Nhà nước cấp cơ sở. Hoạt động của quỹ được th hiện trên hai phương diện: Huy động nguồn thu vào quỹ gọi là thu ngân sách huyện , phân phối và sử dụng quỹ gọi là chi ngân sách huyện. - Các chỉ tiêu thu chi ngân sách luôn mang tính pháp lý (nghĩa là các chỉ tiêu này được qui định bằng văn bản pháp luật và được pháp luật đảm bảo thực hiện). - Đằng sau quan hệ thu, chi ngân sách huyện là quan hệ lợi ích phát sinh trong quá trình thu, chi ngân sách huyện giữa hai chủ th : Một bên là lợi ích chung của cấp cơ sở mà đại diện là chính quyền huyện, một bên là chủ th kinh tế xã hội… 11 Ngân sách huyện vừa cấp ngân sách, lại vừa là một đơn vị dự toán.
Đặc đi m này có ảnh hưởng chi phối trong quá trình tổ chức lập, chấp hành và quyết toán ngân sách huyện. Ngân sách huyện vừa là cấp tự cân đối thu chi, vừa là đơn vị trực tiếp chi tiêu. Hay nói cách khác ngân sách huyện là một cấp ngân sách, vừa là đơn vị dự toán nó vừa tạo nguồn thu vừa phải phân bổ các nhiệm vụ chi. Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế, lịch sử gắn liền với sự hình thành và phát tri n của Nhà nước và hàng hóa - tiền tệ.
Nhà nước với tư cách là cơ quan quyền lực thực hiện duy trì và phát tri n xã hội, quy định các khoản thu, chi của Nhà nước nhằm mục đích đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng của Nhà nước. Nói đến ngân sách nhà nước là đề cập đến hai loại hình hoạt động tài chính cơ bản của Nhà nước: Hoạt động thu ngân sách và hoạt động chi ngân sách. Chi ngân sách nhà nước là một bộ phận trong cơ cấu ngân sách nhà nước. Theo từ đi n giải thích thuật ngữ luật học, chi ngân sách nhà nước là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước.
Mục đích của chi ngân sách nhà nước là thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.