Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DNN&V 1. Thuế GTGT đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khái niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.1 Trong đó, kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Có nhiều quan niệm khác nhau về DNN&V. Song, xét một cách chung nhất, DNN&V là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về vốn, lao động hay doanh thu hoặc cả ba. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có dưới 10 lao động, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động. Mỗi nước có tiêu chí riêng để xác định DNN&V nước mình. Ở Việt Nam, theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính Phủ, Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn 1 Theo Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2006, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 38/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2009&Luật số 37/2013/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2013 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung Điều 170 của Luật doanh nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2013.: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Quy mô Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ Khu vực Số Tổng Số Tổng Số lao động nguồn vốn lao động nguồn vốn lao động I. Nông, lâm Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng nghiệp & người đến tỷ đồng đến người đến 300 trở xuống trở xuống thủy sản 200 người 100 tỷ đồng người II.
Công Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng nghiệp & xây người đến tỷ đồng đến người đến 300 trở xuống trở xuống dựng 200 người 100 tỷ đồng người Từ trên 10 Từ trên 10 Từ trên 50 III. Thương 10 người 10 tỷ đồng người đến tỷ đồng đến người đến 100 mại & dịch vụ trở xuống trở xuống 50 người 50 tỷ đồng người (Nguồn: Tạp Chí Dân Chủ & Pháp Luật) 1. Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung doanh nghiệp có quy mô lớn được ưu tiên phát triển bởi doanh nghiệp có quy mô lớn có vị trí quan trọng hơn trong nền kinh tế, được ưu đãi về vốn, vật tư, thiết bị & có mức lương cao hơn các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhưng từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ (DNN&V) lại chiếm ưu thế.
Xu hướng này là do bởi những ưu điểm sau của DNN&V: - Các DNN&V năng động, linh hoạt trước những thay đổi của thị trường, đặc biệt là nhu cầu nhỏ, lẻ, có tính địa phương do DNN&V có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh, tăng giảm lao động dễ dàng, nơi làm việc của người lao động có tính ổn định và ít bị đe doạ mất nơi làm việc. - Tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý linh hoạt, gọn nhẹ, các quyết định quản lý thực hiện nhanh, công tác kiểm tra, điều hành trực tiếp. Qua đó góp phần tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Vốn đầu tư ban đầu ít, hiệu quả cao, thu hồi nhanh, điều đó tạo sức hấp dẫn trong đầu tư sản xuất kinh doanh, mọi thành phần kinh tế vào khu vực này.
Tuy nhiên, bên cạnh những đặc điểm tích cực trên thì các DNNVV vẫn còn tồn tại một số hạn chế: - Nguồn vốn tài chính hạn chế, đặc biệt nguồn vốn tự có cũng như bổ xung dể thực hiện quá trình tích tụ, tập trung nhằm duy trì hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh. - Cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ công nghệ kỹ thuật thường yếu kém, lạc hậu. Nhà xưởng, nơi làm việc trực tiếp và trụ sở giao dịch, quản lý của đa phần các doanh nghiệp nhỏ rất chật hẹp. - Trình độ quản lý nói chung và quản trị các mặt theo các chức năng còn hạn chế.
Đa số các chủ doanh nghiệp nhỏ chưa được đào tạo cơ bản, đặc biệt những kiến thức về kinh tế thị trường, về quản trị kinh doanh, họ quản lý bằng kinh nghiệm và thực tiễn là chủ yếu. Thuế GTGT đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa a. Khái niệm về thuế giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng (VAT - viết tắt của Value Added Tax) là một dạng thuế bán hàng. Tại một số quốc gia, như Australia, Canada, New Zealand, Singapore thì thuế này được gọi là “Goods and services tax” (GST), nghĩa là thuế hàng hóa và dịch vụ; còn tại Nhật Bản thì nó được biết đến dưới tên gọi “thuế tiêu thụ”.
VAT là một loại thuế gián thu, được đánh vào người tiêu dùng cuối cùng, mặc dù chủ thể đem nộp nó cho cơ quan thu là các doanh nghiệp. Do VAT có mục đích là một khoản thuế đối với việc tiêu thụ, cho nên hàng xuất khẩu (theo định nghĩa này thì người tiêu dùng ở nước ngoài) thường không phải chịu thuế VAT hoặc cách khác, VAT đối với người xuất khẩu được hoàn lại.2 Tại Việt Nam, thuế giá trị gia tăng được định nghĩa như sau: “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”.3 2 Nguồn: http://vi.org/wiki/VAT 3 Nguồn: Theo luật thuế giá tri ̣ gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2009, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 31/2013/QH13 ngày 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nội dung thuế GTGT - Đối tượng chịu thuế: Là hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam. - Người nộp thuế: Người nộp thuế giá trị gia tăng là doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng, doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng.
- Căn cứ tính thuế; Bao gồm giá tính thuế và thuế suất + Giá tính thuế Nhìn chung là giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng. + Thuế suất: Có các Mức thuế suất 0%, 5% và 10% - Phương pháp tính thuế: Sử dụng hai phương pháp là phương pháp khấu trừ và phương pháp trực tiếp. - Nội dung cơ bản của luật thuế GTGT Luật thuế GTGT số 31/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế GTGT số 13/2008/QH12. Đã được Quốc hội thông qua ngày 19/06/2013 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/04/2014.
Luật này quy định và sử đổi như sau: Thứ nhất, về đối tượng không chịu thuế: - Bổ sung làm rõ: các sản phẩm từ muối được sản xuất từ nước biển, muối mỏ tự nhiên, muối tinh, muối i-ốt mà thành phần chính có công thức hoá học là NaCl. - Bổ sung vào đối tượng không chịu thuế: + Bảo hiểm sức khỏe, các dịch vụ bảo hiểm khác liên quan đến con người; các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp khác; bảo hiểm tàu, thuyền, trang thiết bị và các dụng cụ cần thiết khác phục vụ trực tiếp đánh bắt thuỷ sản; bảo hiểm cho ngư dân, để phù hợp với Luật kinh doanh bảo hiểm và khuyến khích ngư dân bám biển. + Bán tài sản bảo đảm của khoản nợ của tổ chức Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam, để góp phần thực hiện đề án thành lập Công ty quản lý tài sản Việt Nam - VAMC (Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ) nhằm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam. Các khoản nợ xấu được VAMC tập trung xử lý là nợ xấu có tài sản đảm tháng 6 năm 2013 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luâ ̣t thuế giá tri ̣ gia tăng, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 bảo bằng bất động sản và bất động sản hình thành trong tương lai dưới các hình thức như cấp tín dụng, mua bán trái phiếu doanh nghiệp, công cụ nợ. + Phụ tùng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để sử dụng trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học (Luật hiện hành đã quy định máy móc, thiết bị, vật tư thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để sử dụng trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học thuộc đối tượng không chịu thuế). - Bỏ dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư ở quy định về đối tượng không chịu thuế mà chuyển sang đối tượng chịu thuế suất 10%, để xử lý vướng mắc trong thực tiễn thực hiện thời gian qua (trong việc phân biệt giữa dịch vụ công cộng về vệ sinh thoát nước đường phố thuộc loại dịch vụ công ích theo đơn đặt hàng của Nhà nước với dịch vụ vệ sinh thoát nước, xử lý chất thải cho tổ chức, cá nhân khác; Có DN đã đầu tư lớn cho việc xử lý chất thải, tái chế phế liệu mà sản phẩm đầu ra (phân vi sinh, sản phẩm tái chế từ nhựa, thuỷ tinh,.) chịu thuế GTGT nhưng không được khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào.